HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG – LÊ HỮU TRÁC (1720-1791)

Hải thượng lãn Ông – Lê Hữu Trác
Nhà đại danh y dân tộc, nhà khoa học lớn,
Ðồng thời là nhà tư tưởng, nhà văn lỗi lạc của nước ta ở thế kỷ thứ XVIII

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. Là người con thứ bảy nên ông còn được gọi là cậu Chiêu Bảy.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.

Lê Hữu Trác xuất thân từ một gia đình (ông, cha, chú, bác, anh, em) đều học giỏi, đỗ cao, làm quan to của thời vua Lê chúa Trịnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ đệ tam giáp tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Dụ Tôn tới bậc thượng thư. Mẹ là Bùi Thị Thưởng quê ở xứ Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Biệt hiệu Hải Thượng do hai chữ đầu tiên tỉnh (Hải Dương) và tên phủ (Thượng Hồng), nhưng cũng có thể do chữ Bầu thượng là quê mẹ và là nơi Hải Thượng ở lâu nhất, từ năm 26 tuổi đến khi mất. Hải Thượng Lãn Ông có nghĩa là ông lười ở Hải Thượng. Nhưng thực tế chúng ta sẽ thấy lười ở đây là lười với công danh phú quý nhưng rất chăm chỉ đối với sự nghiệp chữa bệnh cứu người.

Continue reading

Y HẢI CẦU NGUYÊN – THIÊN THỨ 5 – TẠNG PHỦ

Y HẢI CẦU NGUYÊN

HẢI THƯỢNG Y TÔNG TÂM LĨNH


THIÊN THỨ 5

TẠNG PHỦ

(52 chương)

8.Tỳ là căn bản của 5 tạng, thận là nguồn sinh hóa của 5 tạng.

16.Thận hư không thể hóa được thức ăn, ví như nước với gạo trong nồi mà dưới nồi không có lửa thì làm sao mà chín được cơm.

  • Vị nhận thủy cốc ở trung tiêu, ví như cái nồi, phải nhờ tướng hỏa ở hạ tiêu để làm lửa nấu dưới nồi. Trong sách có nói: “Kinh túc thái âm Tỳ bị hư nên bổ cho kinh túc thiếu âm thận để sinh hóa nó”. Phàm chứng muốn ăn mà ăn không được, ăn được mà không tiêu hóa là do mệnh môn hỏa suy.

18.Vị lành quá thì sinh ra nôn mửa, nóng quá thì sinh ra sợ.

  • Trong vị không có hỏa thì thu nạp sao được, sẽ sinh đối kháng mà nôn mửa. Trong vị có hỏa thịnh thì ngược lại tổn thương thận khí (hỏa thịnh thì sinh thổ vượng mà khắc thủy). Thận chủ về sợ do đó mà sinh ra sợ.

21.Vị là nguồn của phần vệ, Tỳ là gốc của phần vinh.

  • Vị chủ dương khí hậu thiên, Tỳ chủ âm huyết hậu thiên, cho nên thanh khí của thủy cốc là phần vinh, hãm khí của thủy cốc là phần vệ, vì thế vệ thuộc dương chủ khí, vinh thuộc âm chủ huyết.

22.Tỳ ưa táo ghét thấp, Vị ưa thấp ghét táo.

  • Tỳ thuộc thái âm, thuộc kỷ là âm thổ nên ưa táo, Vị thuốc dương minh, thuộc mậu là dương thổ nên ghét táo.

24.Can hỏa lấn lên trên là do Thận âm kém.

  • Vì Ất với Quý cùng một nguồn (Ất Quý đồng nguyên) cho nên Can với Thận thường chữa chung. Can có lôi hỏa, Thận có chân thủy, thủy không kiềm chế được hỏa , vì thủy kém nên thấy hỏa lấn lên trên.

26.Vị đầy đủ thì phần Vệ chắc chắn.

  • Vị là dương khí của hậu thiên, là bể của thủy cốc, là nguồn của vệ khí. Nội kinh nói: “được khí của ngũ cốc thì mạnh”. Khí của ngũ cốc thịnh thì vệ khí đầy mà dương khí chắc chắn. Vệ khí tức là dương khí.

27.Tâm biết việc tương lai, thận nhớ điều dĩ vãng, chứng hay quên là do tâm thận bất giao.

Continue reading