THÔNG TIN Y HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU (ACUPUNCTURE)

THÔNG TIN Y HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU (ACUPUNCTURE)

 

Lynn Ly tổng hợp thông tin về Khoa Châm Cứu (Acupuncture)
từ các bài Thời Sự Y Học của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh

 

Thời Sự Y Học Số 15 – BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/2/2007 )

8/ CHÂM CỨU CÓ HIỆU QUẢ HƠN PLACEBO.

Đó là kết luận được đưa ra lần đầu tiên năm 2005 bởi một công trinh của các nhà sinh ly học thần kinh Anh của Đại Học Southhampton và được công bố trong Neuro Image.Để tránh hiệu quả placebo do chờ đợi kết quả nơi những người bị bệnh viêm khớp,các nhà nghiên cứu đã dùng một mẹo và nhờ đến chụp hình não bộ.Trong nhóm đầu tiên,các nhà nghiên cứu báo cho bệnh nhân biết rằng họ sử dụng các kim cùn không có tác dụng.Trong nhóm thứ hai,họ sử dụng các kim giả,cho cảm giác bị chích nhưng kim khong xuyên qua bì.Sau cùng nhóm bệnh nhân thứ ba mới được chích kim châm cứu thật sự.Phân tích kết quả PET-Scan (tomographies par émission de positons) đã chứng tỏ rằng chỉ có châm cứu làm gia tăng sự hoạt hoá insula, một vùng của vỏ não có liên quan trong sự cảm nhận cảm giác đau đớn.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2007)

Thời Sự Y Học Số 54 – BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 9/12/2007 )

5/ CHÂM CỨU ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ CÓ HIỆU QUẢNhiều công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng tỏ tính hiệu quả của châm cứu, kỹ thuật xa xưa này ở châu Á.

Mặc dầu chưa có một giải thích khoa học nào về các hiệu quả của châm cứu, hàng ngàn các thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng châm cứu có thể có hiệu quả để điều trị một vài rối loạn. Ngay năm 1997, các Viện Y Tế Quốc Gia của Hoa Kỳ đã xác nhận lợi ích y khoa của châm cứu để điều trị các triệu chứng nôn và mửa sau hoá học trị liệu pháp hoặc sau một phẫu thuật, các triệu chứng nôn trong thời kỳ thai nghén và các đau đớn sau khi giải phẫu răng.

« Từ năm 1973, BS Johan Nguyễn thuộc Collège français d’acupuncture nói rõ, đã có hơn 3000 thử nghiệm lâm sàng trong đó châm cứu được so sánh hoặc với một châm cứu giả (acupuncture factice), hoặc với một điều trị khác nơi các bệnh nhân được lựa chọn bằng cách rút thăm. Các kết quả thử nghiệm đã chứng tỏ lợi ích của châm cứu đặc biệt đối với đau lưng mãn tính (lombalgie chronique), bệnh hư khớp (arthrose) gối và các viêm gân ở cùi chỏ. Nơi các bà mang thai với thai phô mông (présentation du siège), cứu một huyệt nơi ngón chân út gây nên sự xoay thai, như vậy tránh được 62% các trường hợp (so với 47% nếu không được cứu), thai phô mông, nguồn gốc của những biến chứng và mổ césarienne phòng ngừa. ». Đó cũng là ý kiến của Edzard Ernst, chuyên gia người Anh về đánh giá các nền y học cổ truyền.

 

Continue reading “THÔNG TIN Y HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU (ACUPUNCTURE)”

Chinese Acupuncture and Moxibustion Video 30 VCD – Link Filefactory và Megaupload

Chinese Acupuncture and Moxibustion Video – VCD (1 – 30-Full Set)

Acupuncture treatment is treasure house of traditional Chinese medicine in a brilliant display of Pearl, is the common treasure of all mankind. Acupuncture in this series on the origin, history of acupuncture treatment from the home and acupuncture, and the development of modern acupuncture. Shanghai University of Traditional Chinese Medicine Part of the production, the Executive Editor Li Ding, Lu Po-kan

BRIEF INTRODUCTION TO 30 CHAPTERS

Chapter 1. Introduction – This part presents the history, present situation, basic contents and learning methods of acupuncture and moxibustion. Through the clinical practice, the basic concepts as “Zhen” (acupuncture), “Jiu” (moxibustion), “Jing” (meridians) and “Xue” (points ) are introduced. This part will give a complete and clear picture of the developing process of Jingluo and points, the origin and evolution of needling instruments and Jiu (moxibustion) therapy, and the applications of new zhenjiuologic methods.

IMG | 487.8 Mb

Chapter 2. Jingluo (Meridian & Collaterals) – This part presents the passages, main diseases, and indications of 12 Jingmai (Meridians), and 8 Extra Meridians. It also introduces the distributing ranges and main functions of 12 Divergent Meridians, 12 muscle regions, 12 cutaneous and 15 Luomai (Collaterals).

IMG | 524.5MB

Continue reading “Chinese Acupuncture and Moxibustion Video 30 VCD – Link Filefactory và Megaupload”

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO – ĐÔNG Y

KHIÊM TRAI Y HỌC GIẢNG CẢO

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO

Tần Bá Vị

Người dịch: Lương y Nguyễn Thiên Quyến

Modified: Đoàn Vũ Xuân Phúc

Nếu như được phép nói, làm một thầy thuốc mà không biện chứng thi trị được tốt chứng cảm mạo, thậm chí chỉ dùng một vài loại thuốc thành phẩm để ứng phó, hoặc là không nắm vững được quy luật chung về điều trị cảm mạo mà chỉ chăm chú vào điều trị những bệnh phức tạp như Ôn bệnh, Thương hàn… đều rất khó tưởng tượng được. Các bạn đã qua học tập, nâng cao trình độ, nhưng chính vì trình độ được nâng cao đó, đối với tật bệnh được xem là nông nhẹ ấy, cần phải đặc biệt chú ý.

Nguyên nhân, cơ chế bệnh và chứng trạng của cảm mạo, sách Trung y nội khoa học giảng nghĩa đã nói rõ ràng, không cần nói lại. Trọng điểm ở đây là nói biện chứng thi trị, đó cũng là làm sao đem được kiến thức sách vở để vận dụng trong lâm sàng cho chính xác.

Nguyên nhân bệnh chủ yếu của cảm mạo là phong tà, muốn khu phong nên dùng thuốc tân tán. Vì khí hậu bốn mùa khác nhau, phong tà xâm nhập cũng thường kiêm cả thời khí khác nhau, nói chung gặp nhiều hai loại phong ôn và phong hàn, trong loại thuốc tân tán lại chia ra tân ôn và tân lương, đó là phép tắc cơ bản để chữa cảm mạo.

Trên cơ sở này, nếu chứng trạng kiêm thử, kiêm táo, kiêm thấp thì điều trị có thanh thử, nhuận táo, hóa thấp. Gặp bệnh nhân vốn có nội nhiệt nặng hoặc vốn có đờm thấp nhiều, cũng có thể kết hợp thanh nhiệt và hóa đàm.

Continue reading “LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO – ĐÔNG Y”

TÝ CHỨNG

TÝ CHỨNG



A.ĐẠI CƯƠNG

Chứng tý theo y học cổ truyền là một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay chân do khí huyết không lưu thông tốt gây bế tắc kinh lạc. Những chứng bệnh phong thấp, thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp, viêm cơ, đau thần kinh toạ, bệnh gút… đều có thể qui vào chứng tý.

Những bệnh thuốc tý chứng như:

  • Đau thần kinh tọa
  • Viêm đa khớp dạng thấp
  • Thấp khớp cấp
  • Bệnh gout

B.NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

“Chứng tý” được ghi đầu tiên trong sách “Nội kinh” như sau: “Phong hàn thấp 3 khí hợp lại gây nên chứng tý… ” và “Phong khí thắng là hành tý, hàn khí thắng là thống tý, thấp khí thắng là trước tý”.

Sách ‘Loại Chứng Trị Tài’ viết rõ thêm: ‘Các chứng tý… do dinh vệ hư, tấu lý không chặt, phong hàn thấp tà khí thừa lúc hư xâm nhập vào cơ thể, chính khí lưu thông bị tắc, sinh khí huyết ngưng trệ lâu ngày thành chứng tý”.

Theo Y văn cổ truyền thì nguyên nhân của “chứng tý ” là: Các tà khí phong hàn thấp nhiễm vào cơ thể sinh bệnh.

Những yếu tố thuận lợi có thể là: Trực tiếp mắc chứng ngoại cảm phong hàn thấp, sống nơi ẩm thấp, khí hậu gió lạnh, cơ thể suy yếu, dễ cảm thụ ngoại tà hàn thấp.

Nguyên nhân chính là do ngoại cảm phong hàn thấp xâm nhập mạch lạc gây khí huyết ứ trệ, mạch lạc không thông gây đau (thống tắc bất thông).

  • Nếu phong thịnh thì đau, đau lúc nhẹ lúc nặng, đau không cố định mà di chuyển gọi là phong tý hay hành tý.
  • Nếu hàn thịnh thì khí huyết ngưng trệ nặng nên đau nhiều, bộ vị đau cố định không di chuyển gọi là hàn tý hay thống tý.
  • Nếu thấp thịnh thì đau nhức không nặng lắm nhưng có cảm giác ê mỏi nặng nề, gặp thời tiết âm u, mưa lạnh ẩm ướt thì đau tăng, đau không di chuyển gọi là thấp tý hay trước tý.
  • Phong hàn thấp ngưng trệ trong cơ thể lâu ngày đều có thể hoá nhiệt mà sinh ra chứng nhiệt tý.

Tuy chứng tý có sự phân chia như vậy nhưng thực tế trên lâm sàng các chứng phong hàn thấp thường là tồn tại kết hợp nên đa số các thầy thuốc chia chứng tý làm 2 loại bệnh là

  • Phong hàn thấp tý
  • Phong thấp nhiệt tý

Continue reading “TÝ CHỨNG”

BÀN VỀ BỆNH TÝ LÀ DO Ứ HUYẾT_VƯƠNG THANH NHẬM

BÀN VỀ BỆNH TÝ LÀ DO Ứ HUYẾT

Vương Thanh Nhậm


Tất cả những bệnh như đau vai, đau cánh tay, đau đùi, đau lưng hoặc khắp người nhức nhối ê ẩm… tất cả đều gọi là chung là bệnh tý.

Biết rõ ràng là bệnh tý là do người bệnh bị phong hàn xâm nhập, vậy mà thầy thuốc dùng thuốc ôn nhiệt để phát tán hong hàn lại không thấy khỏi.

Biết rõ ràng bệnh tý là do thấp nhiệt, vậy mà khi thầy thuốc dùng thuốc lợi thấp giáng hoảng lại cũng vô công.

Bệnh đã lâu ngày thì cơ nhục của bệnh nhân gầy mòn tiều tụy, thầy thuốc bèn cho là do âm hư, thế là dùng các bài thuốc bổ âm cho bệnh nhân uống mà cũng chẳng thấy công hiệu gì. Đến lúc đo thầy thuốc bèn than rằng:

“Than ôi! Bệnh còn ở ngoài bì phu kinh lạc thì còn chữa được, nay bệnh đã vào tận trong gân xương thì thật là khó chữa lắm thay!”

Continue reading “BÀN VỀ BỆNH TÝ LÀ DO Ứ HUYẾT_VƯƠNG THANH NHẬM”

TỨ CHẨN – VỌNG VĂN VẤN THIẾT



TỨ CHẨN – VỌNG VĂN VẤN THIẾT

VỌNG (THẦN, SẮC, HÌNH, THÁI)

Còn thần: Tỉnh táo, mắt sáng Không
Thất thần: Mệt mỏi, thờ ơ, nói không có sức Không
Sắc mặt Tươi nhuận Nhạt
Đỏ Vàng
Xanh Trắng
Đen xám
Sắc môi Tươi nhuận Nhạt, khô Thâm đen
Chất lưỡi Hồng Nhạt (trắng bệch)
Xanh tím Đỏ
Rêu lưỡi Trắng Vàng Đen
Mỏng Dày (bẩn) Không rêu
Ướt Khô Nhớt
Hình dáng lưỡi Bình thường To bệu Nhỏ
Dấu răng Không
Chấm đỏ, đỏ tím (vị trí) Không
Vận động lưỡi Run Lệch
Thể trạng (BMI) Gầy Trung bình Mập
Cơ nhục Teo cơ Không teo cơ
Phù (vị trí) Không
Tính tình Hòa nhã Cáu gắt, dễ nóng nảy


Continue reading “TỨ CHẨN – VỌNG VĂN VẤN THIẾT”

PHONG TÀ

PHONG TÀ

Phong trong tự nhiên là một luồng khí vô hình, vì thế tà khí từ bên ngoài có đặc tính nhẹ bay, khai tiết, di động không cố định thì gọi là phong tà, bệnh do phong tà gây ra gọi là bệnh ngoại phong.

Chủ khí của phong là mùa xuân nhưng bốn mùa đều có, vì vậy bệnh do phong tà gây ra về mùa xuân nhiều nhưng không chỉ hạn chế ở mùa xuân mà các mùa khác đều có thể phát sinh.

Phong tà thường qua bì mao cơ tấu xâm phạm vào cơ thể gây ra các chứng bệnh ngoại phong. Sách Tố Vấn – Phong luận viết: Phong tà ở giữa bì phu… tấu lý, khai tất thoáng mà hàn, bế tất nhiệt mà bí”. Phong tà là một trong những tác nhân gây ra nhiều bệnh.

TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TÀ

a.Phong tính nhẹ nhàng, khai tiết, dễ xâm phạm vào dương phận.

  • Phong tà có đặc tính nhẹ nhàng, thăng tán, hướng lên trên, hướng ra ngoài.
  • Phong có tính khai tiết là chỉ phong tà xâm phạm vào cơ thể dễ làm tấu lý sơ tiết mà mở to.
  • Chính vì những đặc tính này mà phong là thường dễ dàng xâm nhập vào các bộ phận thuộc phần dương của cơ thể như nữa người trên, cơ biểu, lưng gáy để gây bệnh.
    • Ví dụ: phong tà phạm biểu, tấu ý khai tiết gây toát mồ hôi, sợ lạnh, phong tà theo kinh nhiễu loạn ở trên gây đau đầu, phong tà phạm Phế gây các chứng ngạt mũi, ngứa họng… Sách Tố Vấn – Thái âm dương minh luận viết: “Do phạm tặc phong hư tà nên phần dương bị bệnh” và “Do thương phong nên phần trên bị bệnh”.
    • Sách ‘Y Tông Kim Giám’ : trên trời là Phong, dưới đất là Mộc, ở người là Can… do đó, Can khí là Phong khí có liên hệ với nhau. Các bệnh về Phong khí, đều thuộc về Can.
      Continue reading “PHONG TÀ”

HÁO SUYỄN – HEN SUYỄN – ASTHMA

HEN  SUYỄN

(Háo Suvễn – Asthma – Asthme)


ĐẠI CƯƠNG

Hen phế quản, Đông y gọi là là Háo suyễn, Chi Khí Quản Háo Suyễn, thuộc phạm vi chứng háo xuyễn đàm ẩm, biểu hiện đặc trưng là  khó thở, chủ yếu là khó thở ra, thở khò khè, có tiếng rít . Phát bệnh ở cả 4 mùa, nhưng nhiều nhất vào lúc lạnh, thời tiết thay đổi.

  • Sách ‘Y Học Chính Truyền’ định nghĩa: “Suyễn thì thở không to, háo thì thở có tiếng”.
  • Sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: “Thở gấp là suyễn, trong họng có tiếng kêu là háo”.
  • Tuy một vài sách đã tách Háo (hen) và Suyễn ra làm hai bệnh khác nhau, tuy nhiên, trên lâm sàng, hai bệnh này thường đi đôi với nhau, xuất hiện cùng lúc và là triệu chứng chính của bệnh hen suyễn, vì vậy, về nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh, biện chứng luận trị và phương pháp điều trị có thể dùng như nhau.
  • Chứng háo suyễn thường gặp trong các bệnh hen phế quản, phế quản viêm thể hen, phế khí thủng, tâm phế mạn (hen tim) và nhiều bệnh khác như phổi viêm, áp xe phổi, bụi phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Continue reading “HÁO SUYỄN – HEN SUYỄN – ASTHMA”

CÁC ĐỘNG TÁC YOGA GIÚP PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG, ĐAU THẦN KINH TỌA

CÁC ĐỘNG TÁC YOGA GIÚP PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG, ĐAU THẦN KINH TỌA


Urdhva Mukah Svanasana


Urdhva Dhanurasana

Continue reading “CÁC ĐỘNG TÁC YOGA GIÚP PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG, ĐAU THẦN KINH TỌA”

TỌA CỐT THẦN KINH THỐNG – TỌA CỐT PHONG

TỌA CỐT THẦN KINH THỐNG – TỌA CỐT PHONG

ĐẠI CƯƠNG

Đau dây thần kinh tọa là một hội chứng đau dọc theo dây thần kinh hông (đường vận hành ở chân và eo lưng của đường kinh Bàng quang, Đởm và Vị), do nhiều nguyên nhân cơ năng hoặc thực thể ở Bản thân dây thần kinh hoặc rễ thần kinh.
Thuộc phạm vi chứng “Tý” của YHCT với nhiều tên gọi khác nhau.
Đông Y từ lâu đã được đề cập đến chứng đau dây thần kinh hông dưới nhiều tên gọi khác nhau:

  • Sách Giáp Ất Kinh (năm 286) gọi là Yêu Liệt Thống (Hoàn khiêu trị yêu liệt thống, bất đắc chuyển trắc – Huyệt Hoàn khiêu trị chứng lưng đau yếu, hông sườn không xoay trở được), Yêu cước thống, Yêu hiếp thống. Hoàng Phủ Mật đời nhà Tấn (286) trong sách ‘Giáp Ất Kinh’ đã mô tả về chứng đau TK hông như sau: “Yêu hiếp thống dẫn thống cập bể cân” (từ lưng, hông sườn đau lan xuống gân vùng háng).
  • Thoái cổ phong (Hoàn khiêu năng trị Thoái cổ phong) [‘Biển Thước Thần Ứng Châm Cứu Ngọc Long Kinh] (đời nhà Nguyên 1311).
  • Yêu cước đông thống (Châm Cứu Đại Thành).
  • Yêu thống (Phú Tịch Hoàng). Đời nhà Minh, phú ‘Tịch Hoàng’ trong sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ (1601) ghi: “Ủy trung yêu thống, cước loạn cấp…” (Đau eo lưng đến vùng huyệt Ủy trung chân sau, chân co rút).
  • Yêu liệt thống (Thập Tứ Kinh Phát Huy).
  • Yêu thoái thống, Yêu cước thống, Tọa đồn phong, Tọa điến phong, Bệ cốt thống (Bịnh Nguyên Từ điển).
  • Sách ‘Châm Cứu Học Thượng Hải’ gọi là Tọa Cốt Thần Kinh Thống.
  • Sách ‘Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu’ ghi là Tọa đồn (Điến) phong.
  • Đa số các sách cổ đều xếp loại này vào chứng Tý.

Châm cứu điều trị chứng thần kinh tọa đau do nguyên nhân cơ năng, do ngoại tà (phong hàn…) thường có hiệu quả tốt nhưng với loại do nguyên nhân thực thể (thí dụ do lao, thoái vị hoặc lồi đĩa đệm, khối u..) thì rất ít hiệu quả.

NGUYÊN NHÂN
1. Ba nguyên nhân chính gây ra đau thần kinh hông là phong, hàn, thấp. Phong hàn, phong nhiệt hoặc thấp nhiệt xâm nhập vào kinh lạc (nhất là kinh Bàng quang và Đởm), làm cho kinh khí bị ngăn trở không thông, gây ra đau.

  • Hàn có tính làm ngưng trệ và co rút. Tính ngưng trệ làm cho khí huyết, kinh lạc đều ngưng trệ, huyết trệ nặng hơn thành huyết ứ. Có thể nhận định rằng: bản thân người bệnh có sẵn tình trạng ngưng trệ ở khí huyết, kinh lạ, lại gặp thêm ngoại tà như thời tiết lạnh (hàn tà) xâm nhập làm cho chân co duỗi khó khăn hoặc có từng điểm gân co rút, co giật. Hàn tà gây nên cảm giác nhức hoặc như dùi đâm…
  • Thấp tà có xu hướng phát triển từ dưới thấp trước, thường là từ bàn chân chuyển dần lên, nhưng trong bệnh này không có hiện tượng đó. Theo Đông y, vùng eo lưng trở xuống gọi là vùng đái mạch (đái mạch khu), vùng này đau thường liên hệ đến thấp, thấp tà ở vùng Đái hạ có liên quan với Tỳ (Tỳ chủ thấp). Thấp có thể do Tỳ hư, cũng có thể từ hàn sinh ra. Bắt đầu thì hàn sinh ra thấp, sau đó hợp với thấp làm thành hàn thấp. Hàn và thấp phát triển đến một mức độ nào đó cũng hóa ra nhiệt, gây cảm giác nóng ở chỗ đau, thấp hóa nhiệt thành thấp nhiệt.

Như vậy theo Đông Y chứng đau thần kinh hông bao gồm Hàn, Phong và Thấp, phong hàn là yếu tố quan trọng nhất.

2. Hoặc do ứ huyết (thoát vị địa đệm cột sống, chấn thương vùng thắt lưng cùng…) làm cho khí bị ngưng trệ gây đau (loại này khó khỏi hơn).

LÂM SÀNG

THỂ

TRIỆU CHỨNG

PHONG HÀN

(WIND-COLD SYNDROME)

  • Vùng thắt lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân đi lại khó khăn, cơ chưa bị teo, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Phù, hoặc Phù Khẩn. Thường gặp trong chứng đau dây thần kinh hông do lạnh.
  • Phong hàn xâm nhập đơn thuần kinh Đởm thì: Đau ngang thắt lưng – mông- mặt trước ngoài đùi-mặt trước ngoài cẳng chân, xuống bờ ngoài bàn chân, mu bàn chân và ngón cái (tương ứng với thể L5).
  • Phong hàn xâm nhập đơn thuần kinh Bàng quang thì: Đau ngang thắt lưng – mông – mặt sau đùi- mặt sau (tương ứng với thể S1)
  • Thường ấn đau ở  vùng lưng dưới (Đại Trường Du), mông (Hoàn Khiêu), nếp mông (Thừa Phò), kheo chân (Uỷ trung), mặt ngoài cẳng chân (Dương Lăng Tuyền), bắp chân (Thừa Sơn) và gót chân (Côn Lôn).

PHONG HÀN THẤP

(WIND-COLD-DAMP SYNDROME)

  • Đau vùng lưng, đùi, dọc theo mặt ngoài cẳng chân (kinh đởm), và sau khoeo (kinh Bàng quang). Khớp chân co duỗi, đi đứng khó, về đêm, gặp ngày lạnh mưa, thời tiết thay đổi thì thấy đau hơn.
  • Thường gặp trong thoái hóa cột sống
  • Da mát lạnh, chỗ đau thấy nhức như kim đâm, mạch Huyền Khẩn hoặc Trầm Trì, là dấu hiệu hàn tà nhiều hơn.
  • Đau ê ẩm, da mát nhưng có nhiều mồ hôi, lòng bàn chân khi có mồ hôi có cảm giác tê bì ở da, mạch nhu Hoãn là dấu hiệu của thấp tà nhiều hơn.
  • Nếu để lâu, Can Thận âm hư không nuôi dưỡng được gân cơ, có thể có teo cơ vùng mông và chi dưới.

THẤP NHIỆT

(DAMP-HEAT ACCUMULATION)

  • Thể này ít gặp
  • Lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân, đi lại khó khăn, có cảm giác nóng ở các điểm đau, mạch Nhu hơi Sác. Đùi đau buốt, có cảm giác nóng, tiểu tiện vàng giắt, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác

Ứ HUYẾT

(BLOD STASIS SYNDROME)

  • Đau dữ dội như kim châm, dao cắt ở một điểm, lan xuống hai chân. Có điểm đau cố định, sờ vào đau tăng. Chất lưỡi tím, có điểm ứ huyết, mạch Sáp.
  • Nhìn ở phần nông thấy có lạc mạch mầu xanh, xanh thẫm hoặc tím ở vùng khoeo chân hoặc đùi. Ở phần sâu có cảm giác nhức buốt như dùi đâm ở vùng mông (vùng huyệt Hoàn khiêu), dọc theo đường kinh Bàng quang và Đởm, lưỡi có những vết bầm tím, mạch Nhu Sáp.
  • Thường gặp trong thoát vị địa đệm, chấn thương cột sống vùng thắt lưng cùng.


ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc tổng quát:

  • Thông kinh hoạt lạc: kinh lạc bị bế tắc gây ra đau, vì vậy, phải làm cho kinh lạc được thông thì hết đau (thông tắc bất thống).
  • Ôn: bệnh này đau chủ yếu do hàn, vì vậy phải dùng phép ôn để tán hàn.
  • Táo Thấp: Vì bệnh có thấp nên phải táo thấp và táo thấp cũng góp phần hỗ trợ việc thông kinh hoạt lạc.
  • Thư cân hoạt lạc: Bệnh có chứng trạng co rút, vì vậy phải làm cho gân cơ được giãn ra, kinh lạc được lưu thông.
  • Hoạt huyết, hóa ứ: Vì huyết ứ trệ, cần làm cho huyết lưu thông để chuyển hóa chỗ huyết bị ứ theo nguyên tắc ‘Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt’ (Chữa phong trước hết phải chữa huyết, huyết vận hành được thông thì phong tà sẽ tự hết).
  • Lý khí, chỉ thống: Khí trệ thì gây đau, dùng phép lý khí để cho khí được thông thì hết đau. Theo nguyên tắc ‘Khí vận hành đến đâu thì huyết vận hành đến đó’ (khí hành tắc huyết hành).
  • Thanh nhiệt, táo thấp: Trong trường hợp do thấp nhiệt.

CHÂM CỨU

  • Thông huyệt: Túc lâm khấp (Đ.41)
  • Hoa Đà giáp tích vùng thắt lưng L4-L5
  • Thông kinh hoạt lạc 2 kinh : Bàng quang và Đởm.
  • Kinh Bàng quang: Thận Du (Bq.23), Đại Trường Du (Bq.25), Trật Biên (Bq.54), Thừa Phù (Bq.36), Ân Môn (Bq.37), Ủy trung (Bq.40), Thừa sơn (Bq.57), Côn lôn (Bq.60).
  • Kinh Đởm: Hoàn khiêu (Đ.30), Phong thị (Đ.31), Dương lăng tuyền (Đ.34), Huyền Chung (Đ.39)
  • Thấp nhiều: Âm lăng tuyền (Ty.9), Túc tam lý (Vi.36), Thái bạch (Ty.3)
  • Hàn nhiều: Thận Du (Bq.23), Mệnh môn, Đại chùy (Đốc.14)
  • Huyết ứ: A thị huyệt, Cách du (Bq.17)
  • Huyệt khác: Thái xung (C.3) Can chủ cân, Dương lăng tuyền (Đ.34) thư cân hoạt lạc

Tham khảo:
1- Châm Cứu Học Thượng Hải : Sơ đạo kinh khí.
Châm Thận Du (Bq.23) + Bạch Hoàn Du (Bq.30) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Phù (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) .
Phối hợp với Giáp Tích eo lưng (L 2-5), Thượng Liêu (Bq.31) , Thứ Liêu (Bq.32), Trật Biên (Bq.54), Thừa Sơn (Bq.57), Côn Lôn (Bq.67) , Túc Lâm Khấp (Đ.44) và các A Thị huyệt.
Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, kích thích mạnh hoặc vừa, làm cho cảm giác tê truyền đi xa. Khi có cảm giác tê, trướng lan ra thắt lưng và chi dưới rồi thì lưu kim 20 – 30 phút hoặc lâu hơn, cách 3-5 phút lại vê kim 1 lần. Mỗi ngày hoặc 2 ngày trị 1 lần.

2- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Âm Thị (Vi.33) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Côn Lôn (Bq.67) + Thân Mạch (Bq.62) (Thần Ứng Kinh).

3- Uỷ Trung (Bq.40) + Nhân Trung (Đc.26) (Châm Cứu Đại Thành).

4- Thượng Liêu (Bq.31) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Hạ Cự Hư (Vi.39) (Phổ Tế Phương).

5- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Côn Lôn (Bq.67) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Dưỡng Lão (Ttr.6) [cứu] (Thần Cứu Kinh Luân).

6- Trật Biên ((Bq.54) + Đại Trường Du (Bq.25) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Ân Môn (Bq.37) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Huyền Chung (Đ.39) + Thừa Sơn (Bq.57) + Hoa Đà giáp tích vùng thắt lưng 4- 5 (L 4-5) (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).

7- Nhóm 1 : Trung Lữ Du (Bq.29) + Thận Du (Bq.23) + Thượng Liêu (Bq.31) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + UŒy Trung (Bq.40).
Nhóm 2 : Uỷ Trung (Bq.40) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) .
Nhóm 3 : Thừa Phò (Bq.36) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Phong Thị (Đ.31) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) .
Nhóm 4 : Trật Biên (Bq.54) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) .
Nhóm 5 : Yêu Dương Quan (Đc.2) + Thận Du (Bq.23) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Túc Tam Lý (Vi.36) + UŒy Trung (Bq.40).
Nhóm 6 : Bàng Quang Du (Bq.28) + Thận Du (Bq.23) + Đại Trường Du (Bq.25) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Túc Tam Lý (Vi.36) (Châm Cứu Học Giản Biên).

8- Thượng Liêu (Bq.31) + Thứ Liêu (Bq.32) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Trật Biên (Bq.54) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Phi Dương (Bq.58) + Tuyệt Cốt (Đ.39) + Khâu Khư (Đ.40) + Côn Lôn (Bq.67) (Châm Cứu Trị Liệu Học).

9- Bát Liêu + Thừa Phò (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Tất Nhãn + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Dương Phụ (Bq.38) + Thái Bạch (Ty.3) + Đại Đô (Ty.2) + Chí Âm (Bq.67) + Thông Cốc (Bq.66) (Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học).

10- Thông kinh hoạt lạc : Châm Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thái Xung (C.3) + Đại Trường Du (Bq.25) + Thừa Phò (Bq.36) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Côn Lôn (Bq.67) (Châm Cứu Học Việt Nam).

11- Dò tìm ở bụng dưới, vùng giữa (ngang nếp háng), ấn theo hướng đi xuống phía dưới, người bịnh kêu đau ở đâu, đó là điểm Thần kinh tọa. Châm kim vào, sâu 5 cm, hơi hướng kim ra phía ngoài ( Hiện Đại Châm Cứu Trị Liệu Lục).

12- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) . Phối hợp với Thận Du (Bq.23), Đại Trường Du (Bq.25), Bát Liêu (đau vùng lưng), hoặc Thừa Phò (Bq.36), Phong Thị (Đ.31), Ân Môn (Bq.37), Phục Thố (Vi.32), Uỷ Trung (Bq.40), Túc Tam Lý (Vi.36), Thừa Sơn (Bq.57), Tuyệt Cốt (Đ.39), Côn Lôn (Bq.67) (nếu chi dưới đau) – (‘Phúc Kiến Trung Y Dược’ năm 1959).

13- Huyệt chính : Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) +Uỷ Trung (Bq.40) + Phong Thị (Đ.31) + Thận Du (Bq.23) + Côn Lôn (Bq.67) + Tuyệt Cốt (Đ.38) + Đại Trường Du (Bq.25).
Huyệt Phụ: Thừa Phò (Bq.36) + Thừa Sơn (Bq.57) + Yêu Du (Đc.3) + Bát Liêu + Hiệp Khê (Đ.43) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tân Kiện ( ‘Trung Y Tạp chí’ năm 1955).

14- Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Phò (Bq.36) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thừa Sơn (Bq.57) + Huyền Chung (Đ.39) + Côn Lôn (Bq.67) + Khâu Khư (Đ.40) ( ‘Trường Xuân Trung Y Học Viện Học Báo’ (1) – 24/ 1986).

15- Đại Trường Du (Bq.25) + Thừa Phò (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) (‘Giang Tây Trung Y Dược’ số 39/1986).

16- Dùng điện châm Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) xuyên Âm Lăng Tuyền (Ty.9) (‘Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí’ số 18/1986).

17- Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Sơn (Bq.57) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thận Du (Bq.23) + Ân Môn (Bq.37) + Tuyệt Cốt (Đ.39). Huyệt Hoàn Khiêu, Trật Biên, Dương Lăng Tuyền và Thận Du dùng bổ pháp, các huyệt còn lại châm tả ) (‘Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí’ (6) – 8/1986).

18- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Trật Biên (Bq.54) + Uỷ Trung (Bq.40) (‘Cát Lâm Trung Y Dược’ số 27/1985).

19- Túc Tam Lý (Vi.36) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Huyền Chung (Đ.39) + Dương Phụ (Đ.38) + Giải Khê (Vi.41) + Thái Xung (C.3) + Khâu Khư (Đ.40) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Ân Môn (Bq.37) + Trật Biên (Bq.54) (‘Trung Quốc Châm Cứu Tạp chí’ số 38/1986).

20- Sơ kinh, hoạt lạc. Châm tả Đại Trường Du (Bq.25) + Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tuyệt Cốt (Bq.39) + Côn Lôn (Bq.67) (Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn).

CÒN TIẾP…