ỨNG DỤNG ĐẦU CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT

From https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3833481/

Biên dịch và hiệu đính MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc

LIỆT BELL

Liệt Bell là tình trạng liệt và yếu các cơ chi phối biểu hiện nét mặt ở một nữa mặt. Nguyên nhân do thương tổn hoặc chấn thương một phần của dây thần kinh mặt (thần kinh sọ não VII) chi phối các cơ ở mặt. Các triệu chứng của liệt Bell thường xuất hiện đột ngột và đạt đến đỉnh điểm trong vòng 48 giờ. Mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng dao động từ yếu nhẹ đến liệt toàn bộ nữa mặt, và liệt Bell thường gây mất cân xứng khuôn mặt một cách rõ rệt. Hiện nay, hầu hết các  trường hợp liệt Bell đều không rõ nguyên nhân. Phần lớn các nhà khoa học cho nguyên nhân gây ra bệnh lý này là do nhiễm virut và dây thần kinh mặt bị sưng và bị viêm do phản ứng nhiễm khuẩn.

Các dấu hiệu và triệu chứng của liệt Bell bao gồm tình trạng khởi phát đột ngột với yếu hoặc liệt nữa mặt gây khó khăn khi cười hoặc nhắm mắt ở bên bệnh, khóe miệng bị lệch và xệ xuống gây khó khăn khi biểu cảm nét mặt. Các triệu chứng khác bao gồm đau phía sau hoặc phía trước tai ở bên bệnh, âm thanh dường như nghe lớn hơn ở tai bên bệnh, và những thay đổi về lượng bài tiết nước mắt và nước bọt. Trẻ em khi sinh ra có thể bị liệt mặt và cũng có các triệu chứng liệt Bell tương tự như người lớn. Thường là do chấn thương khi sinh làm tổn thương khó hồi phục dây thần kinh mặt dẫn đến liệt thần kinh mặt cấp tính.

Những bệnh nhân bị liệt mặt do các nguyên nhân tiềm ẩn có thể xác định thì không xem là liệt Bell. Những nguyên nhân tiềm ẩn đó bao gồm u, đột quỵ, tiểu đường, viêm màng não, chấn thương đầu và các bệnh lý viêm nhiễm các dây thần kinh sọ não. Tuy nhiên, trong những trường hợp này, những dấu hiện thần kinh hiếm khi chỉ giới hạn ở dây thần kinh mặt. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu đối với liệt Bell, mặc dù ba trong bốn các triệu chứng của người bệnh có thể tự giảm bớt trong vòng hai đến ba tuần. Những trường hợp khác có thể để lại di chứng với nhiều mức độ và một số bệnh nhân bị thương tổn vĩnh viễn.

Các biến chứng chính của liệt Bell bao gồm mất vị giác mãn tính (ageusia), co thắt cơ mặt mãn tính, và nhiễm trùng giác mạc. Để điều trị tình trạng mất vị giác, nên kích thích vị trí 2/5 dưới của vùng Cảm giác trong Đầu châm. Không nên sử dụng điện châm trên mặt vì nó có thể gây co kéo cơ mặt. Để điều trị tình trạng co kéo cơ mặt, nên kích thích vùng Múa giật-Run và vị trí 2/5 dưới của vùng Vận động. Để ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng giác mạc, nên bảo vệ mắt bằng cách che hoặc băng mắt trong khi ngủ và khi nghỉ ngơi. Có thể nhỏ nước mắt nhân tạo hoặc các loại dầu dùng cho mắt, đặc biệt trong những trường hợp liệt hoàn toàn.

Liệt mặt, theo Trung y, liên quan đến tình trạng khí huyết mất điều hòa không nuôi dưỡng đầy đủ các đường kinh tuần hoàn trên mặt, cũng như do sự xâm nhập của tà khí phong hàn và phong thấp.

BỆNH SỬ #8

Bệnh nhân nam Jimmy, 52 tuổi, đến phòng khám của chúng tôi ở Santa Fe, NM, vào năm 2000. Bệnh nhân đã được chẩn đoán liệt Bell trước đó 2 tuần do nhiễm lạnh. Bệnh nhân bị đau mức độ trung bình dọc theo đường quai hàm và phía sau tai trái. Bệnh nhân không thể nhắm được mắt trái, nâng mày trái, nhe răng, cau mày hoặc chu cằm bên trái. Khóe miệng bên bệnh bị xệ xuống và miệng lệch sang phải, và rõ nét hơn khi cười. Do vậy bệnh nhân rất bực bội, giận dữ và sợ rằng khuôn mặt của anh ta sẽ không trở lại như bình thường được. Lưỡi bệnh nhân đỏ, rêu lưỡi vàng, mỏng. Mạch phù hoạt.

Chẩn đoán theo Trung y: Thấp nhiệt gây tắc nghẽn kinh mạch và lạc mạch.

ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐẦU CHÂM

Vùng điều trị

Vùng chính: 2/5 dưới của vùng Vận động

Vùng phụ: 2/5 dưới của vùng Cảm giác

dau-cham-tri-liet-mat

Thủ pháp

Châm kim ở cả hai vị trí 2/5 dưới của vùng Vận động và 2/5 dưới của vùng Cảm giác đối bên. Dùng kim tiêu chuẩn tốt nhất châm vào các vùng da đầu trị liệu nói trên. Luôn luôn châm một kim tại huyệt Thần môn ở tai để giúp bệnh nhân thư giãn và giảm cảm giác nhạy cảm khi châm và kích thích kim trên da đầu. Mỗi hai phút, tiến hành vê (xoay) kim với tần số 200 lần/phút bằng ngón cái và ngón trỏ, xoay kim nhẹ nhàng nhất có thể khi bắt đầu điều trị và lặp lại kích thích mỗi 10 phút để bệnh nhân có thể thích nghi với cảm giác tốt hơn. Trong khi điều trị, một số bệnh nhân có thể có một vài hoặc tất cả các loại cảm giác sau: nóng, lạnh, nhói, tê, nặng, căng hoặc cảm giác nước hoặc điện chạy ở vùng mặt bị bệnh. Lưu kim 20-30 phút và yêu cầu bệnh nhân tập vận động các cơ mặt ở bên bệnh sau trị liệu đầu châm, đặc biệt khi không có kim châm ở trên mặt. Việc điều trị được tiến hành 2 lần mỗi tuần và sau đó giảm dần số buổi điều trị sau khi bệnh nhân đã có cải thiện đáng kể. Một liệu trình điều trị là 10 lần.

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ #8

Bệnh nhân Jimmy đã đáp ứng rất tốt sau trị liệu bằng phương pháp Đầu châm lần đầu tiên. Bệnh nhân ngay lập tức đã có thể nhắm mắt trái tốt hơn và triệu chứng đau xung quanh tai và quai hàm giảm đáng kể chỉ vài phút sau khi châm 2 kim. Sau lần điều trị thứ ba, tình trạng méo miệng và xệ góc miệng đã cải thiện đáng kể, đặc biệt sau khi châm các kim ở vùng mặt, tay và chân. Chỉ sau 6 lần điều trị bệnh nhân đã có thể nâng mày, nhe răng trên và chu cằm. Tuy nhiên bệnh nhân vẫn chưa thể nhắm chặt mắt hoàn toàn và cười còn hơi méo. Sau 9 lần trị liệu đầu châm, tất cả các chức năng biểu hiện nét mặt đã phục hồi hoàn toàn và bệnh nhân rất hài lòng với kết quả này.

THẢO LUẬN

Đầu châm là một phương pháp điều trị hiệu quả đối với liệt Bell. Nó có thể khôi phục các dây thần kinh bị thương tổn và phục hồi đầy đủ chức năng và sức cơ đối với các vùng thương tổn. Hầu hết bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn sau 5-15 lần điều trị. Những bệnh nhân được điều trị sớm có thể phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên, liệt mặt có thể tiếp tục diễn tiến và xấu hơn từ 7-10 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên.

Nếu bệnh nhân bị liệt Bell được điều trị trong vòng 7 ngày sau khi phát bệnh, nên nói rõ cho các bệnh nhân rằng tình trạng của họ vẫn chưa ổn định, hơn nữa có thể nặng thêm hoặc các triệu chứng xấu hơn có thể tiếp tục diễn tiến. Nếu không bệnh nhân có thể quy là châm cứu làm cho các triệu chứng của họ nặng hơn. Mặc dù, Đầu châm đã có hiệu quả trong điều trị liệt Bell, nhưng Thể châm với kỹ thuật châm xuyên cũng rất hiệu quả trong điều trị bệnh lý này. Các huyệt thường dùng là Tứ bạch (St 2) xuyên đến Địa thương (St 4), Địa thương (St 4) xuyên đến Giáp xa (St 6), Ngư yêu (kỳ huyệt) xuyên đến thái dương (kỳ huyệt), Dương bạch (GB 14) xuyên đến Ngư yêu (kỳ huyệt) và Hạ quan (St 7), Hợp cốc (LI 4), Thái xung (Liv 3).

Những nghiên cứu về hiệu quả của đầu châm đối với liệt Bell

Có nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy Đầu châm và Thể châm thường quy có hiệu quả cao trong điều trị liệt mặt.

  • Wu Jian-min báo cáo trị liệu 80 ca liệt mặt bằng phương pháp Đầu châm vào năm 1989 Thời gian mắc bệnh từ 4 ngày đến 2 năm. Phương pháp điều trị Đầu châm được chỉ định một ngày một lần và một liệu trình điều trị là 10 lần. Kết quả cho thấy 72 ca liệt Bell phục hồi hoàn toàn (90%) và 8 ca cải thiện đáng kể (10%), không có ca nào thất bại, tỉ lệ hiệu quả trên tổng số là 100%.

(Jian-min Wu., “Clinical Observation of 80 Cases of Facial Paralysis by Scalp Acupuncture,” Shanxi Journal of Traditional Chinese Medicine, 1989, Vol. 10No. 2, p. 81)

  • Dựa trên báo cáo nghiên cứu của Liu Fang-shi thực hiện vào năm 1994, 48 ca liệt mặt được điều trị bằng Đầu châm ở vùng Vận động. Kết quả 25 ca phục hồi hoàn toàn (52%), 18 ca cải thiện đáng kể (38%) và 5 ca thất bại khi không có cải thiệt chút nào (10%), tỉ lệ hiệu quả trên tổng số là 90%.

(Fang-shi Liu, et al. , “Clinical Observation of 48 Cases of Facial Paralysis by Scalp Acupuncture,”Shanghai Journal of Acupuncture and Moxibustion, 1994, Vol. 13No. 4, p. 166)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s