LỊCH SỬ ĐẦU CHÂM VÀ DANH PHÁP 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO HIỆP HỘI KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI

Biên dịch và hiệu đính
MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc, MD. Dương Trọng Lập, BA. Phan Thị Thanh Phương

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐẦU CHÂM

Liệu pháp Đầu châm đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm. Các y gia thời xưa đã biết được tầm quan trọng của các huyệt ở da đầu trong trị liệu, tuy nhiên Đầu châm phát triển rất nhanh chỉ trong vài thập kỷ gần đây. Lịch sử phát triển Đầu châm được tóm tắt trong bảng 1.

Bảng 1: Lịch sử phát triển Đầu châm

Năm Tác giả và/hoặc nghiên cứu Đóng góp
5 BC Tiểu sử Biển Thước Ghi chép y học sớm nhất về ứng dụng liệu pháp Đầu châm ở Trung Quốc.
221 BC–220 AD Hoàng Đế Nội Kinh Thiết lập cơ bản học thuyết Y học cổ truyền Trung Quốc về liệu pháp Đầu châm.
220 AD–1950 AD Có nhiều báo cáo ghi nhận về liệu pháp đầu châm trong nhiều sách y học. Liệu pháp đầu châm phát triển qua các thế hệ khác nhau, nhưng vẫn phụ thuộc vào hệ thống châm cứu truyền thống
1950’s Đầu châm trở thành một phần của hệ thống vi châm. Đầu châm bắt đầu hình thành một hệ thống độc lập.
1970’s Liệu pháp Đầu châm của Tiêu Thuận Phát (Jiao Shunfa), liệu pháp Đầu châm của Phương Vân Bằng (Fang Yunpeng), liệu pháp Đầu châm của Chu Long Ngọc (Zhu Longyu), and liệu pháp Đầu châm của Chu Minh Thanh (Zhu Minqing), liệu pháp Tân Đầu châm của Yamamoto và các cộng sự. Liệu pháp đầu châm phát triển nhanh và hình thành những hệ thống danh pháp huyệt vị da đầu khác nhau.
1980’s–1990’s Hiệp hội khoa học của WHO về Danh pháp châm cứu quốc tế Các đường châm cứu da đầu chuẩn hóa quốc tế được chứng nhận bởi hiệp hội khoa học của WHO.

Đầu châm bắt nguồn từ châm cứu sọ não để điều trị bệnh ở Trung quốc cổ đại. Lịch sử ghi nhận trong tiểu sử Biển Thước có bản ghi chép y học sớm nhất đối với ứng dụng của liệu pháp Đầu châm ở Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên (5 BC), Biển Thước đã chữa trị cho một bệnh nhân (Thái tử nước Quắc) mắc chứng “thi quyết” (chết giả) bằng cách châm huyệt Bách hội (GV 20). Hoàng Đế Nội Kinh đã thiết lập cơ bản học huyết Y học cổ truyền Trung Quốc về liệu pháp Đầu châm. Trong học thuyết này, đầu là nơi hội tụ các kinh Dương và là phủ (chỗ ở) của nguyên thần. Đầu còn là nơi hội tụ khí huyết của các đường kinh. Dựa vào học thuyết “điểm bắt đầu và kết thúc của đường kinh” và học thuyết “biểu hiện của gốc bệnh ra đường kinh”, các huyệt ở đầu và các huyệt ở thân mình có mối quan hệ mật thiết với các huyệt ở đầu chi. Não là bể của tủy và là chủ của tạng phủ cũng như công năng của các đường kinh. Các huyệt ở đầu có thể điều hòa chức năng của Âm Dương, Khí Huyết và Tạng Phủ. Đây là học thuyết cơ bản chính yếu của liệu pháp Đầu châm. Cũng có nhiều ghi ghép các trường hợp trị liệu bằng Đầu châm trong Hoàng Đế Nội Kinh. Có hơn 50 phần trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh thời nhà Tần ghi nhận trị liệu các bệnh bằng các huyệt ở đầu, như các bệnh ở đầu, mặt và ngũ quan, cũng như các bệnh tâm thần kinh và nhiều bệnh lý khác. Sau đó, liệu pháp Đầu châm phát triển dần dần qua nhiều thế hệ khác nhau và có rất nhiều ghi chép trong các y văn. Thừa Đảm Án (承担按Cheng Danan) (1899–1957) được biết đến trong Tạp chí châm cứu chuyên sâu đầu tiên—Tạp chí Châm cứu, tháng 10 năm 1933. Báo cáo được xuất bản về việc trị liệu các bệnh bằng cách kết hợp các huyệt trên thân mình và các huyệt ở đầu như Bách hội (GV 20), Phong phủ (GV 16), Thần đình (GV 24), Thượng tinh (GV 23), Phong trì (GB 20)Suất cốc (GB 8). Tuy nhiên hiếm thấy các ghi chép về điều trị bệnh chỉ bằng châm các huyệt ở đầu, cũng như điều trị các bệnh ở khắp cơ thể bằng các huyệt ở đầu. Vì vậy, việc trị liệu vẫn còn phụ thuộc vào hệ thống châm cứu truyền thống. Cách dùng huyệt thường dùng nhất là kết hợp các huyệt ở đầu và các huyệt ở xa chi. Chủ yếu điều trị các bệnh tâm thần, đầu, mặt và các bệnh tai mũi họng… và do vậy chưa hình thành nên một hệ thống độc lập.

Từ những năm 1950, các chuyên gia châm cứu bắt đầu quan sát mối quan hệ giữa các vị trí bệnh của cơ thể với các vùng dưới đầu tương ứng, và để xác định mối liên quan cũng như hiệu quả của hệ thống vi châm như Nhĩ châm, Tỵ châm, Nhãn châm trong trị bệnh. Các loại huyệt vi châm này phân bố ở các vùng khác nhau của cơ thể như là các điểm hoặc các đường. Châm vào các điểm ở vùng này có thể điều trị các bệnh lý ở các vùng khác cũng như các bệnh lý của chính nó. Từ đó, ứng dụng liệu pháp Đầu châm ngày càng gia tăng và càng có nhiều kinh nghiệm lâm sàng hơn. Ví dụ, Phương Vân Bằng (方云鹏 Fang Yunpeng) ở Thiểm Tây, vào cuối những năm 1950 và Đường Tùng Nham (唐松岩 Tang Songyan) ở Thượng Hải vào cuối những năm 1960 đã bắt đầu ứng dụng Đầu châm trong trị liệu và phương pháp này dần dần được cải tiến.

Vào đầu những năm 1970, Đầu châm đã được tách riêng khỏi hệ thống châm cứu truyền thống dưới ảnh hưởng của giải phẫu thần kinh, sinh lý thần kinh, và nguyên lý toàn ảnh sinh học của y học hiện đại. Các học thuyết và các phương pháp châm cứu mới được hình thành và đạt được hiệu quả trị liệu đáng kể trong điều trị các bệnh lý não. Xã hội hóa châm cứu đã đặt tầm quan trọng lớn vào các nghiên cứu Đầu châm và đã hình thành nên các hệ thống danh pháp huyệt vị ở đầu khác nhau. Đầu châm dần dần phát triển thành một hệ thống châm cứu hoàn chỉnh và độc lập. Vào năm 1971, Tiêu Thuận Phát (顺发 Jiao Shunfa) ở tỉnh Sơn Tây Trung Quốc đã thiết lập kỹ thuật châm cứu hiện đại kết hợp phương pháp châm cứu truyền thống đầu tiên với kiến thức y học phương Tây về các vùng đại diện của vỏ não, bao gồm giải phẫu, sinh lý, bệnh lý và thần kinh [15]. Đầu châm của Tiêu Thuận Phát dựa trên học huyết y học phương Tây về hệ thần kinh và kích thích các vùng đặc biệt như vùng vận động, vùng cảm giác và vùng ngôn ngữ. Các vùng da đầu tương ứng với các vị trí chức năng của vỏ não được sử dụng như là các vùng kích thích trong Đầu châm để điều trị bệnh. Sau đó, liệu pháp Đầu châm của Phương Vân Bằng (方云 Fang Yunpeng) (Thiểm Tây) đã được xuất bản vào năm 1976 và liệu pháp châm cứu sọ não của Chu Long Ngọc (龙玉 Zhu Longyu) (Sơn Tây) xuất bản vào năm 1979 ở Trung Quốc [16]. Các nhà sáng lập liệu pháp Đầu châm khác bao gồm Trương Minh Cửu (张明久 Zhang Mingjiu) (Nam Kinh), Đường Tùng Nham (唐松岩 Tang Songyan) (Thượng Hải), Lâm Gia Kiệm (林学 Lin Xuejian) (Thượng Hải)… Mỗi tác giả đề xuất các đồ hình và các nhóm huyệt châm cứu da đầu khác nhau. Ví dụ, một số chia da đầu thành các khu hoặc các vùng trong khi những người khác tập trung vào các điểm hoặc các đường.

Vào những năm 1970, một số bài báo được xuất bản trong các tạp chí tiếng Anh giới thiệu liệu pháp Đầu châm trong điều trị các bệnh lý não [17-19]. Ở Mỹ, Bác sĩ Chu Minh Thanh (朱明清 Zhu Minqing) (Bắc Kinh) đã bắt đầu phát triển phương pháp Đầu châm của riêng ông vào những năm 1970 và đã đem phương pháp trị liệu này sang Mỹ, đồng thời thành lập Trung tâm Đầu châm Trung Quốc tại Mỹ vào năm 1991, tại San Francisco. Hiện nay phương pháp trị liệu của ông đã được mở rộng sang Trung tâm Châm cứu Y học và Thần kinh Chu ở San Jose, CA. Vào năm 1992, ông xuất bản sách về phương pháp của ông bằng tiếng Anh: Đầu châm Chu (Zhu’s Scalp Acupuncture) [20]. Theo bác sĩ Chu, huyệt Bách hội (GV 20) là huyệt cơ bản cho tất cả các huyệt ở đầu. Trong liệu pháp đầu châm Chu, có ba khu chính (được đặt tên là khu Trán-đỉnh (Eding), khu Đỉnh-chẩm (Dingzhen) và khu Đỉnh-thái dương (Dingnie) chia nhỏ hơn thành tổng cộng 11 phần và ba khu thứ phát, mỗi khu lại chia thành 2 phần (được đặt tên là khu Trán bên 1 (Epang 1), khu Trán bên 2 (Epang 2), khu Đỉnh-Hội (Dingjie) trước, khu Đỉnh-Hội (Dingjie) sau, khu Thái dương sau (Niehou)khu Thái dương trước (Nieqian).

Tại Nhật bản, dựa trên kiểu hình thể (somatotopes), bác sĩ Toshikatsu Yamamoto đã phát triển phương pháp Tân Đầu Châm Yamamoto (Yamamoto New Scalp Acupuncture (YNSA)). YNSA hiện diện trên thế giới lần đầu tiên vào năm 1973. Phương pháp này liên quan đến cách chọn huyệt thông qua việc sờ ấn các khu kiểm tra ở cổ và bụng, với việc châm kim cực kỳ chuẩn xác tại các huyệt ở đầu thích hợp [21]. Vào năm 1988, quyển sách mang tên Liệu pháp Tân Đầu châm Yamamoto đã được xuất bản [22]. Mặc dù có nhiều khác biệt giữa liệu pháp Đầu châm Nhật Bản và Trung Quốc về mặt học huyết cơ bản, vị trí kích thích và tên các huyệt, các phương pháp này vẫn có nhiều điểm chung trong chỉ định lâm sàng và thủ pháp châm.

14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO HIỆP HỘI KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI

Liệu pháp Đầu châm đã được sử dụng rộng rãi ở Trung quốc và hiệu quả của nó đã được kiểm chứng thông qua kinh nghiệm thực tiễn, Đầu châm dần dần được chấp nhận và trở thành liệu pháp thường dùng ở nhiều nước trên thế giới. Vì vậy việc chuẩn hóa tên huyệt là cần thiết và cấp bách, và được đưa vào chương trình nghị sự. Vào năm 1983, Ủy ban Khu vực Tây Thái bình dương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã giao phó cho Hiệp hội Châm cứu Trung quốc chuẩn bị chương trình về Chuẩn hóa Danh pháp các đường Châm cứu da đầu.

Sau thảo luận theo nhóm về việc chuẩn hóa danh pháp vào các năm 1984, 1985 và 1985, đã đạt được sự nhất trí ý kiến và đặt tiêu đề là Tiêu chuẩn hóa Danh pháp Châm cứu Quốc tế: 3.6 Các đường châm cứu da đầu. Chương trình này đã được thừa nhận trong cuộc gặp các hội khoa học được Tổ chức Y tế Thế giới tổ chức vào năm 1989 và được xuất bản vào năm 1991 [23]. Danh pháp này được hình thành dựa theo các vị trí trên các đường kinh và kết hợp với kỹ thuật châm xuyên truyền thống (một kim xuyên hai đến ba huyệt).

Danh pháp bao gồm 3 phần: Các ký hiệu, các tên tiếng Trung và các tên phiên âm tiếng Trung. Kí hiệu bao gồm tên viết tắt của từ vi hệ thống và điểm da đầu (MS) với con số tương ứng. Có 14 đường châm cứu da đầu phân bố ở 4 vùng. Bảng danh pháp này là sự đóng góp to lớn đối với sự pháp triển và truyền bá liệu pháp Đầu châm cũng như đối với sự trao đổi giữa các viện trường quốc tế về các nghiên cứu Đầu châm.

Thủ pháp châm có thể được thực hiện đơn thuần (châm cứu đơn thuần) hoặc bằng điện (điện châm), người thực hiện châm kim xuyên vào các huyệt ở da đầu. Kim có đường kính 0,35mm-0,45mm và dài 40mm-70mm, châm dưới da, một góc 15-30 độ. Vê kim liên tục hoặc lặp lại nhanh. Có thể dùng điện châm nhưng phải thiết lập cường độ hợp lý. Trong quá trình châm nên tránh các mạch máu. Sau khi rút kim nên đè vào lỗ châm, để tránh xuất huyết dưới da [24].

Hiệp hội Khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới xem các đường châm cứu da đầu tương ứng với các vùng chức năng não bên dưới. Hội đề xuất danh pháp cho các đường châm cứu da đầu, sử dụng kí hiệu bảng chữ cái MS (viết tắt của từ “vi hệ thống” [Micro-system] và “điểm da đầu” [Scalp point]).

Bảng 2: Danh pháp các đường châm cứu da đầu

Vùng Vị trí Phiên âm Tiếng Hán Ký hiệu
Vùng trán Đường trán giữa, từ huyệt Thần đình (GV14) thẳng xuống 1 thốn, dọc theo mạch Đốc Ézhongxiàn 額中 線 MS1
Đường trán bên 1, từ huyệt Mi xung (BL3) thẳng xuống 1 thốn dọc theo đường kinh Épángxiàn I 額旁1線 MS2
Đường trán bên 2, từ huyệt Đầu lâm khấp (GB15) thẳng xuống 1 thốn dọc theo đường kinh Épángxiàn II 額旁2線 MS3
Đường trán bên 3, từ điểm nằm cách huyệt Đầu duy (ST8) phía trong 0,75 thốn thẳng xuống 1 thốn. Épángxiàn III 額旁3線 MS4
Vùng đỉnh Đường giữa đỉnh, từ huyệt Bách hội (GV20) đến huyệt Tiền đỉnh (GV21) dọc theo đường giữa đầu Dingzhongxiàn 頂中 線 MS5
Đường chéo đỉnh-thái dương trước, từ huyệt Tứ thần thông (EX-HN1) (một trong 4 huyệt Tứ thần thông, cách huyệt Bách hội (GV20) phía trước 1 thốn) đến Huyền ly (GB6) Dingniè qiánxiéxiàn 頂顳 前斜線 MS6
Đường chéo đỉnh-thái dương sau, từ huyệt Bách hội (GV20) đến huyệt Khúc tân (GB7) Dingniè hòuxiéxiàn 頂顳 後斜線 MS7
Đường đỉnh bên 1, cách đường giữa đầu phía ngoài 1,5 thốn, từ huyệt Thừa quang (BL6) ra sau 1,5 thốn dọc theo đường kinh. Dingpángxiàn I 頂旁1線 MS8
Đường đỉnh bên 2, cách đường giữa đầu phía ngoài 2,25 thốn, từ huyệt Chính dinh (GB17) ra sau 1,5 thốn dọc theo đường kinh.
Dingpángxiàn II 頂旁2線 MS9
Vùng thái dương Đường thái dương trước, từ huyệt Hàm yến (GB4) đến huyệt Huyền ly (GB6). Nièqiánxiàn 顳前 線 MS10
Đường thái dương sau, từ huyệt Suất cốc (GB8) đến huyệt Khúc tân (GB7). Nièhòuxiàn 顳後 線 MS11
Vùng chẩm Đường chẩm giữa-trên, từ huyệt Cường gian (GV18) đến huyệt Não hộ (GV17). Zhenshàng zhèngzhongxiàn 枕上 正中線 MS12
Đường chẩm bên-trên, song song và cách phía ngoài đường chẩm giữa-trên (đường MS12) 0,5 thốn. Zhenshàng pángxiàn 枕上 旁線 MS13
Đường chẩm bên-dưới, từ huyệt Ngọc chẩm (BL9) thẳng xuống 2 thốn. Zhenxià pángxiàn 枕下 旁線 MS14

Hiệp hội Khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới về Danh pháp Châm cứu Quốc tế, Tiêu chuẩn hóa Danh pháp Châm cứu Quốc tế: Báo cáo của Hiệp hội Khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới, Geneva, Thụy sĩ, 1991.

WHO Scientific Group on International Acupuncture Nomenclature, A Proposed Standard International Acupuncture Nomenclature: Report of a WHO Scientific Group, World Health Organization, Geneva, Switzerland, 1991.

Hình 1. Các đường châm cứu da đầu MS1, MS2, MS3 và MS4 (nhìn trước)
Hình 1. Các đường châm cứu da đầu MS1, MS2, MS3 và MS4 (nhìn trước). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Hình 2. Các đường châm cứu da đầu MS6 và MS7 (nhìn bên)
Hình 2. Các đường châm cứu da đầu MS6 và MS7 (nhìn bên). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Hình 3. Đường châm cứu da đầu MS5, MS8 và MS9 (nhìn trên)
Hình 3. Đường châm cứu da đầu MS5, MS8 và MS9 (nhìn trên). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.

 

Hình 4. Các đường châm cứu da đầu MS6, MS7, MS10 và MS11 (nhìn bên)
Hình 4. Các đường châm cứu da đầu MS6, MS7, MS10 và MS11 (nhìn bên). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Hình 5. Các đường châm cứu da đầu MS12, MS13 và MS14 (nhìn sau)
Hình 5. Các đường châm cứu da đầu MS12, MS13 và MS14 (nhìn sau). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Hình 6. Các đường châm cứu da đầu MS6, MS7, MS8, MS9, MS10 và MS 11 (nhìn bên).
Hình 6. Các đường châm cứu da đầu MS6, MS7, MS8, MS9, MS10 và MS 11 (nhìn bên). Chỉnh sửa dựa theo Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. World Health Organization, 1991, WHO Scientific Group on International Acupuncture Nomenclature, A Proposed Standard International Acupuncture Nomenclature: Report of a WHO Scientific Group, <http://apps.who.int/medicinedocs/en/d/Jh2947e/4.6.html>, ngày truy cập 17/07/2016.
  2. Zhe Liu et al., 2012, History and Mechanism for Treatment of Intracerebral Hemorrhage with Scalp Acupuncture, <http://www.hindawi.com/journals/ecam/2012/895032/>, ngày truy cập 17/07/2016.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s