VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 1

1.Đại cương:
1.1. Định nghĩa:

-Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính  của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm lâu ngày, liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng (90 ngày) trong một năm và ít nhất là 2 năm liền sau khi loại trừ các nguyên nhân gây ho khạc đờm mạn tính khác như lao phổi, áp xe phổi, giãn phế quản… (theo hội thảo quốc tế tại Anh 1965)

1.2. Phân loại:
– Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.
– Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn  lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease).
– Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: (Brochit chronic mucopurulence) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

1.3. Nguyên nhân và bệnh sinh:
– Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
– Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
– Nhiễm khuẩn:  vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
– Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA  , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
– Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
– Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
+ Biến đổi chất gian bào.
+ Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.
+ Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

1.4. Giải phẫu bệnh lý:

  • Tổn thương từ khí quản-phế quản lớn đến các phế quản tận, bao gồm: phá huỷ biểu mô phế quản, giảm tế bào lông và thay đổi cấu trúc rung mao, quá sản các tế bào hình đài, tăng sản và phì đại tuyến nhầy, chỉ số Reid ³0,7 là chỉ số của bề dầy tuyến / thành phế quản, (bình thường chỉ số này £ 0,4).

Viêm phế quản mạn tính gây phì đại các tuyến tiết nhầy trong khí quản và phế quản. Chỉ số Reid là tỉ lệ bề dày lớp tuyến nhầy so với bề dày thành phế quản (nằm giữa lớp biểu mô và lớp sụn phế quản). Chỉ số Reid bình thường là dưới 0,4 và tăng trong viêm phế quản mạn tính.

Phế quản bình thường (trên) và viêm phế quản mạnh tính (dưới) – có sự gia tăng số lượng tuyến nhầy và bề dày tuyến nhầy ở lớp dưới niêm mạc phế quản.

Hình ảnh gia tăng lượng tuyến nhầy và hình ảnh thâm nhiễm tế bào ở dưới lớp nội mô (hình mũi tên).  Hình ảnh nhầy mủ (hình #)

  • Đường thở nhỏ tổn thương viêm mạn tính: phì đại cơ trơn, loạn sản tế bào chế nhầy, bong biểu mô gây hẹp lòng đường thở nhỏ và tăng sức cản đường thở.

  • Những trường hợp có biến chứng khí phế thũng, thì có tổn thương đường thở ở trung tâm tiểu thuỳ và giãn ra không hồi phục, gây khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.

Hình ảnh phổi bình thường và khí phế thủng – Hình trên cho thấy các phế nang có kích thước bình thường. So sánh với hình ảnh bên dưới là sự giãn các phế nang bất thường trong khí phế thủng.

Bệnh viêm phế quản mạn tính phát triển khi gặp thời tiết ẩm ướt và cơ địa dị ứng. Bệnh tiến triển với những đợt nhiễm khuẩn ngày càng nhiều và kéo dài. Nếu không chữa trị tốt, phế quản và các tiểu phế quản lâu ngày sẽ bị xơ cứng, tắc nghẽn, đường dẫn không khí vào phế nang bị cản trở. Nghiêm trọng hơn, viêm phế quản mạn tính có thể dẫn đến bệnh tâm phế mãn. Tim nở to hơn do phải làm việc quá sức để đẩy máu vào phổi, dẫn đến suy hô hấp, suy tim.

2.Triệu chứng lâm sàng:

– Bệnh thường gặp ở người trên 40 tuổi, nghiện hút thuốc.

– Mới bắt đầu là ho và khạc đờm: Ho xảy ra nhiều trong một năm, từng đợt, dễ xuất hiện khi trời lạnh hoặc thay đổi thời tiết, tăng về mùa đông và đầu mùa thu,

  • Có thể ho khan nhưng thường ho khạc đờm vào buổi sáng, đờm màu trắng và có bọt.
  • Khi ho lâu ngày, đờm đặc hơn, màu vàng và có mủ, khối lượng đờm hằng ngày ít nhất 5-10ml (đầy một đáy bao diêm) về sau tăng nhiều hơn. Khi tiến triển lâu ngày, thêm biến chứng giãn phế quản hoặc apxe hoá, khối lượng đờm có thể hàng chén.
  • Các đợt ho đờm thường xảy ra lặp đi lặp lại, ban đầu 4-5 lần một năm, mỗi lần 10-15 ngày, về sau thường xuyên và kéo dài hơn.


– Đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính, thường xảy ra ở người già, yếu, do bội nhiễm. Có thể sốt, ho, khạc đờm và khó thở, có thể tử vong do suy hô hấp và tâm phế mạn.

– Ở người mắc bệnh lâu năm (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) lồng ngực biến dạng hình thùng, hình phễu, khó thở rút lõm cơ hô hấp, rút lõm kẽ gian sườn, phần đáy bên của lồng ngực co hẹp lại khi hít vào (dấu hiệu Hoover ), rút lõm hõm ức, khí quản tụt xuống khi hít vào (dấu hiệu  Campbell). Gõ phổi vang trầm, nghe rì rào phế nang giảm, tiếng thở thanh-khí-phế quản giảm hoặc thô ráp, có thể có ran rít, ran ngáy và ran ẩm. Có thể có hội chứng ngừng thở khi ngủ, mạch đảo nghịch (chênh lệch huyết áp tâm thu khi hít vào và thở ra ³ 10mmHg), cao áp động mạch phổi và tâm phế mạn.

– Khó thở là một triệu chứng quan trọng, xảy ra ở giai đoạn muộn hơn. Lúc đầu chỉ là cảm giác “trống hơi” nặng nề như bị đè nén trong ngực, dần dần bệnh nhân cảm thấy thiếu không khí thực sự.

– Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác, tuy không thường xuyên như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh…

3.Cận lâm sàng:
3.1. X quang:
Tuy ít giá trị chẩn đoán nhưng, Xquang phổi giúp chẩn đoán phân biệt các bệnh gây ho khạc mạn tính và để chẩn đoán biến chứng.
– Viêm phế quản mạn tính giai đoạn đầu, Xquang phổi chưa có biểu hiện.

– Khi viêm phế quản mạn tính thực thụ, sẽ thấy các hội chứng Xquang:
+ Hội chứng phế quản: dầy thành phế quản (3-7mm), dấu hiệu hình đường ray, hình nhẫn. Kèm theo viêm quanh phế quản, mạng lưới mạch máu tăng đậm, tạo hình ảnh phổi  “ bẩn”. (rốn phổi đậm cùng những dải xơ xuống cơ hoành)
+ Hội chứng khí phế thũng: giãn phổi, tăng sáng, giãn mạng lưới mạch máu ngoại vi, có các bóng khí thũng.
+ Hội chứng mạch máu: cao áp động mạch phổi (mạch máu trung tâm to, ngoại vi thưa thớt).

Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT : High Resolution Computed Tomography) thấy rõ được các dấu hiệu của hội chứng phế quản nói trên và khí phế thũng.

Chụp động mạch phế quản có thể thấy giãn động mạch phế quản và cầu nối giữa động mạch phế quản và động mạch phổi.

Chụp xạ nhấp nháy (Scintigraphie): dùng senon 133 có thể thấy phân bố khí không đều ở các phế nang. Dùng 131I để thấy sự phân bố máu không đều trong phổi.


Vì sự nhiễm trùng tái đi tái lại kèm với quá trình xơ hóa, ta thấy cấu trúc mạch máu phế quản có hình ảnh những đường nét bất thường. Đây là dấu hiệu duy nhất của bệnh lý viêm phế quản trên x-quang ngực.



Hình ảnh phóng to cho thấy cấu trúc mạch máu phế quản bất thường (hình mũi tên).


Chest film and magnified view of right midfield. Irregular bronchovascular markings due to recurrent inflammation with scirrous deformation.

Chest film and magnified view on the right. The lines that leave the right hilum horizontally show irregular borders because of chronic inflammation.

Chest film and magnified view from left upper field. On the right the upper part of the enlarged view shows irregular bronchovascular structures with variable diameters.

Chest film and magnified view. The bronchovascular structures have an irregular appearance.

Chest film and magnified view from the left periphery. The line that runs cranio-caudal is the medial border of the scapula. Arrowheads point to irregular pattern of bronchovascular structures.


Chest film and magnified view from right middle/upper lung field. Irregular contours of bronchovascular structures with irregular diameters.

X ray of lungs with chronic bronchitis. (Reproduced by permission of  Custom Medical Stock Photo)

3.2. Thăm dò chức năng hô hấp:
– Thông khí phổi: viêm phế quản mạn tính khi có rối loạn thông khí tắc nghẽn thì gọi là  bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính .
+ FEV1 ( VEMS ) giảm  < 80% lý thuyết, càng giai đoạn muộn thì càng giảm.
+ Raw ( sức cản đường thở ) tăng sớm .
+ VC ( dung tích sống ) giảm, khi có tắc nghẽn và khí phế thũng.
+ Chỉ số Tiffeneau  hoặcGaensler  giảm.
– Khí động mạch: có giá trị chẩn đoán suy hô hấp trong các đợt bùng phát: PaO­2 giảm ( < 60mmHg ) PaCO2 tăng ( > 50mmHg ).

4. Chẩn đoán:
4.1. Chẩn đoán xác định:
Dựa vào tiêu chuẩn trong định nghĩa và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.

  1. Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính  của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm lâu ngày, liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng (90 ngày) trong một năm và ít nhất là 2 năm liền sau khi loại trừ các nguyên nhân gây ho khạc đờm mạn tính khác như lao phổi, áp xe phổi, giãn phế quản… (theo hội thảo quốc tế tại Anh 1965)
  2. Triệu chứng: xem phần triệu chứng
  3. Cận lâm sàng: xem phần cận lâm sàng

4.2. Chẩn đoán phân biệt:
– Lao phổi :  ho kéo dài , Xquang có hình ảnh mờ đỉnh phổi, hình ảnh ”phổi bẩn”, BK đàm (+)
– Giãn phế quản: ho và khạc đờm nhiều. Nhưng < 200ml/24 giờ.
– Hen phế quản: cần chẩn đoán phân biệt với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn, dùng test xịt Salbutamol 200 – 300 mg và đo FEV1, nếu FEV1 tăng không quá 15% là viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn .
– Ung thư phế quản: ho kéo dài. Xquang có hình ảnh u hoặc hạch chèn ép.
– Khí phế thũng: khi viêm phế quản mạn tính chưa biến chứng khí phế thũng.

Có thể căn cứ vào bảng sau để chẩn đoán:

Khí phế thũng Viêm phế quản mạn tính.
Khó thở: nặng Vừa
Ho: có sau khó thở Có trước khó thở
Viêm đường thở: ít Thường xuyên
Suy hô hấp: giai đoạn cuối Từng đợt cấp
Xquang: giãn phổi, tăng sáng Hình ảnh “ Phổi bẩn”
Sức cản đường thở ( Raw ): tăng nhẹ Tăng nhiều.

5.Tiến triển và biến chứng:
– Tiến triển: từ từ nặng dần 5-20 năm, nhiều đợt bùng phát dẫn đến biến chứng khí phế thũng và tâm phế mạn, suy hô hấp.
– Biến chứng:

  • Khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.
  • Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
  • Tâm phế mạn, cao áp động mạch phổi.
  • Bội nhiễm: viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi…
  • Suy hô hấp: cấp và mạn.


4 thoughts on “VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 1

  1. mình cũng đang bị ho kéo dài, ban ngày thì đỡ ho nhưng đêm thì ho rất nhiều và có đờm, trước đây mình cũng bị viêm phế quản không biết đã bị mạn tính chưa?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s