CAN ÂM HƯ

CHỨNG CAN ÂM HƯ

Chẩn đoán phân biệt chứng Hậu trong đông Y

Viện nghiên cứu trung Y chủ biên

I.KHÁI NIỆM

Chứng Can âm hư là một nhóm chứng trạng do âm huyết của Can bất túc, mất sự nhu nhuận, gân mạch không được nuôi dưỡng, hoặc âm không chế dương, hư nhiệt từ trong sinh ra gây nên bệnh. Phần nhiều do mất huyết quá nhiều, ốm lâu hao tổn Can âm gây nên hoặc vì tính khí không thoả mãn, Can uất kéo dài, khí uất hoá hoả, hoặc bệnh mãn tính, bệnh ôn nhiệt dẫn đến hao thương can âm mà sinh ra bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau đầu, chóng mặt, mắt khô, sợ ánh sáng, hai mắt tối xầm, quáng gà, ù tai, đau sườn, tâm phiền hay cáu giận, móng tay chân không nhuận hoặc bắp thịt máy động, thậm chí vùng mặt có cảm giác nóng bừng, miệng ráo họng khô, gò má và môi đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, mất ngủ hay mê, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Huyền Tế Sác. Phụ nữ có thể có chứng trạng hành kinh muộn, lượng ít hoặc bế kinh.

Cơ chế bệnh sinh: Chứng can âm hư có triệu chứng thường thấy của chứng âm hư và triệu chứng riêng của can:

*  Chứng âm hư như hoả bốc lên thì mặt nóng bừng, hư nhiệt sinh ra ở trong thì triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, hư hoả nhiễu dinh thì sinh đạo hãn, tự hãn, âm dịch suy hao không nhuận lên trên được thì họng khô, âm hư nội nhiệt thì lưỡi đỏ ít rêu.

*  Chứng can âm hư liên quan đến thận âm, không tư nhuận cho đầu mặt nên chóng mặt ù tai, 2 mắt khô sáp. Hư hoả đốt nóng can lạc cho nên xương sườn cụt đau, nóng. Can âm suy hư gân mạch mất nuôi dưỡng cho nên tay chân nhu động. Mạch huyền thuộc can, tế thuộc âm hư, sác là có nhiệt, cho nên mạch huyền tế sác là can âm bất túc, hư nhiệt đốt ở trong.

Chứng Can âm hư thường gặp trong các bệnh Hiếp thống, Huyễn vậng, Đầu thống, Hư lao, Nội thương phát nhiệt, Hãn chứng, Bất mị, Bạch tình sáp thống, Thanh manh, Cao phong tước mục và kinh nguyệt muộn, bế kinh, băng lậu…

Chẩn đoán phân biệt với các chứng Thận âm hư, chứng âm hư dương cang, chứng Can hỏa thượng viêm, chứng Can Thận âm hư.

II.PHÂN TÍCH

  • Trong bệnh Hiếp thống (Đau sườn) xuất hiện chứng Can âm hư có đặc điểm là đau sườn âm ỉ, dai dẳng không dứt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế Sác, đó là âm huyết của Can bất túc, không nuôi dưỡng được kinh mạch mà thành bệnh. Mục Hiếp thống luận sách Kim quỹ dực có nói: “Nói Can hư tức là nói Can âm hư, âm hư thì mạch đi gấp gáp, mạch của Can qua Cách và giải ra ở liên sườn, âm hư huyết ráo thì kinh mạch mất sự nuôi dưỡng gây nên đau”. Điều trị nên dưỡng âm nhu Can, dùng bài Nhất quán tiễn (Liễu châu y thoại).

  • Trong bệnh Huyễn vậng, Đầu thống xuất hiện chứng Can âm hư thì có đặc điểm là đầu quay quắt không muốn mở mắt, đau đầu liên miên, tai ù như ve kêu, phần nhiều do Can âm ất túc, thanh khiến không được nuôi dưỡng gây nên. Điều trị nên tư âm dưỡng Can, dùng bài Kỷ cúc địa hoàng hoàn (Y cấp) gia giảm.
  • Trong bệnh Nội thương phát nhiệt xuất hiện chứng Can âm hư thường có chứng triều nhiệt vào buổi chiều và ban đêm, hoặc lòng bàn ta chân nóng, miệng đắng hognj khô, phiền táo không yên. Đây là do Can âm bất túc, âm không chế dương, hư nhiệt từ trong gây nên. Điều trị nên tư âm dưỡng Can thanh nhiệt, dùng bài Nhất quán tiễn (Liễn châu y thoại) gia giảm.
  • Trong Hãn chứng xuất hiện chứng Can âm hư phần nhiều ra mồ hôi trong khi ngủ, tỉnh dậy thì hết, hư phiền khó ngủ, sợ sệt không yên. Đây là do Can âm bất túc, âm khuy hỏa vượng, âm không gìn giữ ở trong gây nên bệnh. Mục Hãn chứng sách Y học chính truyền có viết: “Đạo hãn là trong khi ngủ mồ hôi vã ra như tắm, tỉnh dậy mới biết, thuộc Âm hư, chủ yếu là do vinh huyết”. Điều trị nên tư âm giáng hỏa liễm hãn, dùng bài Đương quy lục hoàng thang (Lan thất bí tàng) gia giảm.
  • Chứng Can âm hư xuất hiện trong bệnh Hư lao, ngoài những chứng trạng gầy còm, sặc mặt đỏ bừng, móng tay chân không tươi, chân tay tê dại haowcj cơ bặp máy động, thường kiêm cả chứng trạng hư tổn của các Tạng Phủ khác, vả lại bệnh trình kéo dài, dai dẳng khó khỏi, phần nhiều do âm huyết ở Can bất túc, gân mạch không được nuôi dưỡng gây nên. Sách Y tông kim giám viết: “hai bên sườn đau lan tỏa tới vùng ngực, gân lỏng lẻo không đi được là chứng Can lao” nói lên đặc điểm của chứng này. Điều trị nên tư bổ Can âm, dùng bài Bổ Can thang (Y tông kim giám).
  • Bệnh thuộc Nhãn khoa xuất hiện chứng Can âm hư phần nhiều xuất hiện trong các bệnh tròng trắng mắt khô đau, cao phong tước mục, và thanh manh, có chứng trạng hai mắt khô rít, không sưng không đỏ, sợ ánh sáng chói hoặc quáng gà, nhìn mờ. Đây là do Can âm bất túc, tinh huyết suy tổn, mắt không được nuôi dưỡng gây nên. Sách Chư bệnh chứng hậu luận viết: “Mắt là ngoại hậu của Can,… nếu chất dịch cạn kiệt thì mắt khô rít”. Điều trị nên dưỡng Can minh mục, dùng bài Minh mục địa hoàng thang (Thẩm thị giao hàm).
  • Trong bệnh Phụ khoa xuất hiện chứng Can âm hư, có chứng trạng như hành kinh muộn, lượng ít, sắc đỏ hoặc hơi nhạt hoặc vài tháng không hành kinh, có thể bế kinh, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế… Đây là do Can huyết bất túc, xoang nhãn suy hư, huyết hư không đầy gây nên bệnh. Điều trị nên tư Can điều kinh, có thể dùng Nhất quán tiễn gia giảm.
  • Can âm bất túc có thể xuất hiện trong bệnh Băng lậu, có chứng trạng là hành kinh đầm đìa không dứt, lượng nhiều ít không nhất định, sắc đỏ tươi, bụng dưới đau liên miên, lưng gối ê ẩm, lòng bàn tay chân nóng. Đây là do Can âm bất túc, Thận tinh suy tổn, âm hư nội nhiệt, nhiệt ẩn náu ở Xung Nhâm, bức huyết đi càn gây nên. Điều trị nên tư bổ Can Thận, điều kinh chỉ băng, dùng bài Điều can tán (Phó thanh chủ nữ khoa).

*Chứng Can âm hư phần nhiều gặp ở người cao tuổi thể trạng yếu, ốm lâu bị hao mòn hoặc điều trị không kịp thời, điều trị sai lầm, cướp đoạt mất âm dịch. Vì Can là tiên thiên của phụ nữ, đặc điểm lâm sàng chủ yếu là hành kinh muộn, hạnh kinh đau bụng, hoặc bế kinh, kinh nguyệt ít mà không dứt, thai động không yên hoặc không thụ thai.

Can là tạng chứa huyết, chủ về sơ tiết và ưa điều đạt, cho nên việc cất chứa huyết dịch, sự thư sướng của cơ khí có quan hệ chặt chẽ với Can.

Trong quá trình diễn biến bệnh cơ, Can âm bất túc, huyết không nuôi Can, Can khí không dễ chịu dẫn đến âm hư can uất. Trái lại chứng Can uất kéo dài, ngũ chí hóa hỏa, cướp đoạt Can âm cũng có thể làm cho Can âm càng suy. Vả lại Can Thận đồng nguyên, bệnh biến thường có ảnh hưởng lẫn nhau mà hình thành chứng hậu Can Thận âm khuy. Vả lại Can Thận âm khuy, thủy không hàm mộc, sự thăng phát của Can dương thái quá dẫn đến Can dương quá găng. Nếu Can dương thăng lên không kiềm chế được, tinh huyết suy kiệt, gân mạch không được nuôi dưỡng thì phong từ trong sinh ra dẫn đến Can phong nội động bệnh tình càng trở nên nguy hiểm.

III.CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

1.Chứng Thận âm hư với chứng Can âm hư

  • Can tạng huyết, Thận tàng tinh, tinh huyết cùng một nguồn, biểu hiện lâm sàng hai chứng này khá giống nhau, đều có thể có những chứng trạng âm hư như ngũ tâm phiền nhiệt, hư phiền không ngủ được, triều nhiệt mồ hôi trộm, hai gò má đỏ, miệng khô họng ráo, chóng mặt hoa mắt…
  • Theo nguyên nhân bệnh mà bàn, chứng Thận âm hư phần nhiều do phú bẩm bạc nhược, phòng lao quá độ, hạ nguyên khuy tổn, hoặc mất huyết hao dịch, hoặc tình chí nội thương hao tổn tinh huyết ngấm ngầm làm tổn thương chân âm mà thành bệnh. Còn chứng Can âm hư phần nhiều từ chứng Can huyết hư phát triển nên, hoặc là Can uất hóa hỏa làm hao tổn Can âm ngấm ngầm cho đến ốm lâu tổn thương chân âm gây nên bệnh. Can khai khiếu lên mắt, Can âm bất túc không nuôi dưỡng được khiếu của nó cho nên hai mắt khô rít, mắt không tỏ hoặc quáng gà. Can chủ gân, vinh nhuận ra móng tay chân, sườn là nơi Can đi quá, nếu âm dịch của Can bất túc không nuôi dưỡng được gân mạch, móng tay chân và kinh lạc thì chân tay tê dại, cơ bắp thịt máy động, móng tay chân không tươi, sườn đau âm ỉ, khác với chứng Thận  âm hư, Thận chủ xương sinh tủy, răng là phần thừa của xương, lưng là phủ của Thận, Thận âm bất túc, bể tủy rỗng không, các khớp xương không được nuôi dưỡng thì chóng mặt ù tai, hay quên, hai chân yếu, gót chân đau, tóc rụng răng lugn lay, lưng gối ê ẩm. Chứng Can âm hư mạch Huyền Tế Sác, chứng Thận âm hư mạch Trầm Tế hoặc Trầm Tế Sác. Đấy là cơ sở chẩn đoán phân biệt.

2.Chứng âm hư dương cang với chứng Can âm hư

  • Can là cương tạng, thể âm mà dụng dương. Chứng âm hư dương cang phần nhiều do Can Thận âm hư, thủy không hàm mộc hoặc Can khí uất kết, lâu ngày hóa hỏa, hun đốt Can âm, Can dương cang nghịch lên trên mà thành bệnh. Can dương bùng lên đột ngột, quấy rối thanh không ở trên mà thành bệnh. Can dương bùng lên đột ngột quấy rối thanh không ở trên cho nên đầu trước đau, choáng váng, hoa mắt chóng mặt, đầu nặng chân nhẹ, vả lại có khi do mệt nhọc cáu giận mà dụ phát, bệnh phát sinh nhanh chóng và có đặc điểm là bệnh tình khá nặng. Vì dương trôi nổi ở trên nên mặt hồng mắt đỏ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế Sác hoặc Huyền cứng có lực hoặc có thể kèm theo chứng hậu Can Thận âm hư.
  • Còn chứng Can âm hư thì chủ yếu là do âm dịch tạng Can suy hư. Âm dịch bất túc, thanh khiếu không được nuôi dưỡng nên nhức đầu liên miên, chóng mặt không muốn hé mắt, bệnh trình tiến triển khá chậm chạp, hai mắt khô rít, không đỏ không sưng, sườn đau âm it, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế Sác.
  • Chứng Âm hư dương cang phân nhiều thuộc bản hư tiêu thực, mà Can âm hư là bản, dương cang lên trên là tiêu. Chứng Can âm hư là bản hư, không có hiện tượng tiêu thực. Mấu chốt để chẩn đoán phân biệt là ở chỗ đó.

3.Chứng Can Thận âm hư với chứng Can âm hư

  • Can Thận đều ở vị trí hạ tiêu. Thận âm bất túc thường có thể dẫn đến Can âm bất túc. Can âm bất túc cũng có thể dẫn đến Thận âm khuy tổn cho nên chứng Can Thận âm hư với chứng Can âm hư rất dễ lẫn lộn cần phân biệt.
  • Chứng Can âm hư phần nhiều do Can huyết hư phát triển nên hoặc Can uất hóa hỏa hao tổn Can âm ngấm ngầm, hoặc ốm lâu hao tổn Can âm gây nên. Chứng Can Thận âm hư thường từ chứng Can âm hư tiến thêm một bước ảnh hưởng tới Thận hoặc thất tình nội thương, ốm lâu không khỏi, nhao thương phần âm của Can Thận gây nên bệnh. Can âm hư lấy âm dịch của Can bất túc làm biểu hiện chứng trạng chủ yếu. Còn chứng Can Thận âm hư thì không chỉ có chứng trạng của Can âm hư mà còn xuất hiện cả chứng trạng Thận âm bất túc như lưng và cột sống đau mỏi, bắp chân và gót chân đau, răng lung lay, rụng tóc, di tinh tảo tiết và phụ nữ không thụ thai. Chẩn đoán phân biệt hai chứng này không khó.

4.Chứng Can hỏa thượng viêm với chứng Can âm hư

  • Cả hai chứng này đều có hiện tượng nhiệt, đều có thể có các chứng chóng mặt, đau đầu, ù tai, đau sườn, mạch Sác… Nhưng bệnh nguyên và cơ chế hai chứng này khác nhau.
  • Chứng Can hỏa thượng viêm phần nhiều có đặc điểm là Can uất hóa hỏa, Can khí nghịch lên gây nên. Bởi vì tính của hỏa là bốc lên quấy rối thanh khiếu cho nên có các chứng trạng đầu trướng đau, nặng hơn thì đầu đau như như muốn vỡ, tai ù như nghe đợt sóng, phần nhiều phát sinh đột ngột hoặc bỗng dưng tai không nghe được gì. Khác với nguyên nhân gây bệnh của chứng Can âm hư có chứng trạng đặc trưng là đau đầu liên miên, tai như có tiếng ve kêu, ấn mạnh tay thì đỡ.
  • Chứng Can hỏa bốc lên là do Can kinh có uất nhiệt, có các chứng trngj sườn đau rát, miệng khát họng khô, khí hỏa bốc lên bức huyết đi càng, có thể xuất hiện các chứng xuất huyết như thổ ra huyết, chảy máu mũi. Chứng Can âm hư là do âm dịch bất túc, đường lạc và các khiếu không được nuôi dưỡng, cho nên thấy đau sườn âm ỉ, mắt khô rít, miệng khô không muốn uống. Chứng Can hỏa bốc lên lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Huyền Sác có lực thuộc Thực Nhiệt. Chứng Can âm hư có chứng lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế hoặc Huyền Sác Tế, thuộc Hư Nhiệt, chẩn đoán phân biệt không khó khăn.

*Phân biệt 3 chứng: Can dương thượng cang, Can hoả bốc và Can âm hư:

  • Can dương cang lên thì lấy chứng trạng cang lên là chính, như đầu mặt chướng đau, choáng váng nóng bừng kèm theo có triệu chứng âm hư ở dưới như đau lưng gối mỏi… Bệnh trình tương đối ngắn, bệnh thể tương đối chậm, triệu chứng âm hư hoả vượng, thuộc về bản hư, tiêu thực; trên thực dưới hư (hư trung hiệp thực).
  • Can hoả bốc lên thì lấy triệu chứng hoả nhiệt làm chính, như mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, đại tiện bí sáp. Bệnh trình tương đối ngắn, thể bệnh tương đối cấp, triệu chứng hoả nhiệt rõ rệt, thuộc về chứng thực
  • Can âm hư thường kèm với thận âm hư thì triệu chứng âm hư là chính như: đau lưng, mỏi gối, đau đầu, ù tai, kèm theo có triệu chứng nội nhiệt như triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt. Bệnh trình dài, bệnh thể chậm, thuộc về hư chứng rõ rệt.

IV.Y VĂN TRÍCH DẪN

  • Bệnh của Can, đau dưới sườn lan tỏa tới bụng dưới, khiến người ta hay giận. Can hư thì mắt lờ mờ không thấy gì, tai không nghe được gì, hay giận như có người sắp đến bắt… Khí nghịch thì đau đầu, tai điếc, má sưng (Tạng khí pháp thời luận – Tố Vấn).
  • Can khí bất túc thì mắt mờ không tỏ, hai bên sườn đau căng, rút gân, thở dài, móng tay chân khô dòn, mặt tái, hau buồn hau sợ như có người sắp đến bắt. Đó là Can khí hư, điều trị nên theo phép Bổ (Chư bệnh nguyên hậu luận, quyển 15).
  • Chứng trạng Can hư, mặt tái xanh hay cáu giận, bên trái rốn có động khí, ấn vào căng và đau, không muốn ăn uống, rầu rĩ không vui, sợ sệt như có người sắp đến mắt, mạch phía trên quan bộ tay phải có hiện tượng âm hư, đó là hậu về bệnh Can (Thánh tế tổng lục, quyển 41).
  • Thận tàng tinh, Can tàng huyết, người ta tinh huyết điều hòa thì Can Thận khí đầy đủ, làm tốt lên tai mắt, cho nên tai mắt thông minh, nghe và nhìn rõ ràng. Nếu tinh huyết suy hao, hai tạng hư tổn, thì thần thủy không thanh, thị lực yếu cho nên mắt tối xầm (Thánh tế tổng lục, quyển 102).
  • Hay ngáp và mặt đỏ phần nhiều là do Gân và Can hỏa. Hay ngáp mà mặt tái và sợ sệt là bệnh ở Tâm Can cùng xuất hiện. Mặt đỏ và nhiều nước mắt là có tích nhiệt. Đầu choáng váng, không cúi nhìn được là Can hỏa. Huyết khô tóc dựng đứng là Can hư, Mắt không tỏ sợ ánh sáng là Can Thận cùng mắc bệnh (Tứ chẩn quyết vi, quyển 3).

HOÀNG BÍNH SƠN – TÀO HỒNG HÂN

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s