LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO – ĐÔNG Y

KHIÊM TRAI Y HỌC GIẢNG CẢO

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO

Tần Bá Vị

Người dịch: Lương y Nguyễn Thiên Quyến

Modified: Đoàn Vũ Xuân Phúc

Nếu như được phép nói, làm một thầy thuốc mà không biện chứng thi trị được tốt chứng cảm mạo, thậm chí chỉ dùng một vài loại thuốc thành phẩm để ứng phó, hoặc là không nắm vững được quy luật chung về điều trị cảm mạo mà chỉ chăm chú vào điều trị những bệnh phức tạp như Ôn bệnh, Thương hàn… đều rất khó tưởng tượng được. Các bạn đã qua học tập, nâng cao trình độ, nhưng chính vì trình độ được nâng cao đó, đối với tật bệnh được xem là nông nhẹ ấy, cần phải đặc biệt chú ý.

Nguyên nhân, cơ chế bệnh và chứng trạng của cảm mạo, sách Trung y nội khoa học giảng nghĩa đã nói rõ ràng, không cần nói lại. Trọng điểm ở đây là nói biện chứng thi trị, đó cũng là làm sao đem được kiến thức sách vở để vận dụng trong lâm sàng cho chính xác.

Nguyên nhân bệnh chủ yếu của cảm mạo là phong tà, muốn khu phong nên dùng thuốc tân tán. Vì khí hậu bốn mùa khác nhau, phong tà xâm nhập cũng thường kiêm cả thời khí khác nhau, nói chung gặp nhiều hai loại phong ôn và phong hàn, trong loại thuốc tân tán lại chia ra tân ôn và tân lương, đó là phép tắc cơ bản để chữa cảm mạo.

Trên cơ sở này, nếu chứng trạng kiêm thử, kiêm táo, kiêm thấp thì điều trị có thanh thử, nhuận táo, hóa thấp. Gặp bệnh nhân vốn có nội nhiệt nặng hoặc vốn có đờm thấp nhiều, cũng có thể kết hợp thanh nhiệt và hóa đàm.


Bộ vị bệnh biến của cảm mạo chủ yếu là ở Phế, cho nên mục đích dùng thuốc tân tán để điều trị là tuyên Phế. Phế chủ bì mao, khai khiếu lên mũi có chức năng trị tiết. Trường hợp cảm mạo xuất hiện các chứng hàn nhiệt, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, khái thấu (ho, khạc đờm), ngứa họng… đều thông qua Phế để điều trị. Đương nhiên nếu thấy kiêm chứng đau sườn cũng có thể dùng thuốc sơ Can, kiêm chứng kém ăn, buồn nôn cũng có thể dùng thuốc hòa Vị. Tóm lại tuyên Phế là chủ yếu, rồi từ tuyên Phế kết hợp với các phương diện khác.

Cảm mạo phát sinh và phát triển có liên qua đến sự mạnh yếu của chính khí con người và vệ khí mất điều hòa. Cho nên đa số do không thích hợp ấm lạnh và mệt nhọc gây nên, nhất là người thể chất yếu rất dễ cảm nhiễm, sau khi cảm nhiễm thường dai dẳng lâu khỏi. Nhưng trong loại này, tình huống ngoại nhân dẫn đến phát bệnh, không được đem đảo lộn nhân quả coi là “tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư”. Bởi vì cảm mạo dứt khoát là ngoại cảm bệnh mới, phải khu tà trước tiên, có điều là không được coi bệnh ngoại cảm là nông nhẹ mà xem thường nhân tố nội tại. Lý giải được vấn đề này, đối với điều trị cảm mạo xem như đã nắm được ngọc quý trong tay.

Trước tiên có thể ôn tập một số bài thuốc thông thường để chữa cảm mạo:

1.THÔNG XỊ THANG (Cửu hậu phương):

  1. Thông bạch (cả rễ) 5 củ
  2. Đạm đậu xị 12g

Tác dụng:  Thông dương giải biểu

2.HẠNH TÔ TÁN (Ôn bệnh điều biện)

  1. Hạnh nhân 8 – 12g
  2. Tô diệp 6 – 8g
  3. Tiền hồ 8 – 12g
  4. Cát cánh 8 – 12g
  5. Chế Bán hạ 6 – 12g
  6. Chỉ xác 6 – 8g
  7. Quất bì 4 – 8g
  8. Bạch linh 12 – 16g
  9. Cam thảo 4g
  10. Đại táo 2 quả
  11. Gừng tươi 3 lát

Tác dụng: ôn tán phong hàn, tuyên phế hóa đàm.

3.HƯƠNG TÔ ẨM (Hòa tể cục phương)

  1. Hương phụ 12g
  2. Tô diệp 12g
  3. Trần bì 8g
  4. Chích thảo 40g
  5. Thông bạch 3 củ
  6. Sinh khương 5 lát

Tác dụng: Phát hãn, giải biểu lý khí hòa trung.

4.KINH PHÒNG BẠI ĐỘC TÁN (Nhiếp sinh chứng diệu phương)

  1. Kinh giới 12g
  2. Phòng phong 12g
  3. Độc hoạt 12g
  4. Khương hoạt 12g
  5. Sài hồ 12g
  6. Xuyên khung 8g
  7. Tiền hồ 8g
  8. Cát cánh 8g
  9. Chỉ xác 8g
  10. Phục linh 12g
  11. Cam thảo 4g

Tác dụng: Phát tán phong hàn, giải nhiệt, chỉ thống.

Trên đây là bốn bài thuốc tân ôn phát tán. Thông xị thang thông dương phát hãn, ôn mà không táo, thông dụng cho chứng hàn tà tổn thương phần biểu. Hạnh tô tán chữa khái thấu nhiều đàm. Hương tô ẩm thích hợp với chứng khí trệ vùng ngực khó chịu, ngực bụng đầy tức. Kinh phòng bại độc tán thích hợp với chứng phong hàn khá nặng kiêm chứng nhức mỏi tay chân.

5.TANG CÚC ẨM (Ôn bệnh điều biện)

  1. Tang diệp 12g
  2. Cúc hoa 12g
  3. Hạnh nhân 12g
  4. Liên kiều 6 – 12g
  5. Cát cánh 8 – 12g
  6. Lô căn 8 – 12g
  7. Bạc hà 2 – 4g
  8. Cam thảo 2 – 4g

Tác dụng: Sơ phong, thanh nhiệt, tuyên phế, chỉ khái.

6.NGÂN KIỀU TÁN (Ôn bệnh điều biện)

  1. Liên kiều 8 – 12g
  2. Cát cánh 6 – 12g
  3. Trúc diệp 6 – 8g
  4. Kinh giới tuệ 4 – 6g
  5. Đạm đậu xị 8 – 12g
  6. Ngưu bàng tử 8 – 12g
  7. Kim ngân hoa 8 – 12g
  8. Bạc hà 8 – 12g
  9. Cam thảo 2 – 4g

Tác dụng: Tân lương, thấu biểu, thanh nhiệt, giải độc.

Trên đây là bài thuốc tân lương phát tán, cả hai bài đều sơ phong thanh nhiệt, tuyên Phế chỉ khái. Ngân kiều tán chú trọng vào phát hãn thanh nhiệt kiêm tác dụng giải độc.

7.TAM ẢO THANG (Hòa tễ cục phương): Ma hoàng, Hạnh nhân, Cam thảo

Đây là bài thuốc phát tán có vị cay tính bình. Bởi vì Ma hoàng tính ấm cũng xếp vào loại thuốc tân ôn giải biểu. Tôi cho rằng Ma hoàng tuy nghiêng về ôn nhưng tính nhẹ nhàng là vị thuốc chuyên vào kinh phế. Nhưng bài này dụng Hạnh nhân tiết Phế lợi khí mà không dùng Quế chi, khác với tân ôn phát hãn của Ma hoàng thang, hơn nữa gia Thạch cao tức là Ma hạnh thạch cam thang, trở thành thang thuốc tân lương tuyên tiết, nói lên tính phát tán của bài này trọng điểm là ở tuyên Phế chỉ khái, một khi đã qua kết hợp với vị thuốc khác nhau về vị khí sẽ có thể thay đổi tính chất.

Đối với chứng cảm mạo khái thấu nói chung, tôi dùng bài thuốc đơn giản này rất hiệu quả, trong lâm sàng thường coi là bài thuốc cơ bản và căn cứ vào chứng trạng cụ thể mà gia vị.

8.TANG HẠNH THANG (Ôn bệnh điều biện )

  1. Tang diệp 8 – 12g
  2. Sa sâm 12 – 16g
  3. Đạm đậu xị 8 – 12g
  4. Vỏ lê 8 – 12g
  5. Hạnh nhân 8 – 12g
  6. Thổ Bối mẫu 8 – 12g
  7. Sơn chi bì 8 – 12g

Tác dụng: Sơ phong nhuận táo, thanh phế chỉ khái.

9.TÂN GIA HƯƠNG NHU ẨM (Ôn bệnh điều biện)

  1. Hương nhu 8g
  2. Kim ngân hoa 12g
  3. Bạch biển đậu tươi 12g
  4. Hậu phác 8g
  5. Liên kiều 8g

Tác dụng: dùng chữa các chứng cảm thụ thử tà, phát sốt, hơi gai rét, đau đầu không ra mồ hôi, bứt rứt khát nước, lưỡi đỏ rêu trắng mỏng, mạch hồng đại.

10.HOẮC HƯƠNG CHÍNH KHÍ TÁN (Hòa tể cục phương)

  1. Hoắc hương 12g
  2. Cát cánh 8 – 12g
  3. Phục linh 8 – 12g
  4. Hậu phác ( Khương chế) 6 – 10g
  5. Tô diệp 8 – 12g
  6. Bạch truật 8 – 12g
  7. Bán hạ khúc 8 – 12g
  8. Bạch chỉ 8 – 12g
  9. Đại phúc bì 8 – 12g
  10. Trần bì 6 – 12g
  11. Chích thảo 4g

Tác dụng: Giải biểu, hòa trung, lý khí hóa thấp.

Trên đây là ba bài thuốc chữa cảm mạo có kiêm chứng.Tang hạnh thang chữa phong tà kiêm táo. Tân gia hương nhu ẩm vì thử tà phần nhiều kiêm thấp cho nên dùng Hậu phác, nếu quả là chỉ thuộc thử nhiệt có thể đổi dùng Lục nhất tán. Hoắc hương chính khí tán chủ yếu chữa thấp trọc ở trường vị và cũng có tác dụng giải độc.


11.QUẾ CHI THANG (Thương hàn luận)

  1. Quế chi 12g
  2. Bạch thược 12g
  3. Chích Cam thảo 6g
  4. Sinh khương 12g
  5. Đại táo 4 quả

Tác dụng: Giải cơ, phát hãn giải biểu, điều hòa dinh vệ.

12.SÂM TÔ ẨM (Hòa tễ cục phương)

  1. Nhân sâm 4g (sắc riêng)
  2. Tô diệp 12g
  3. Phục linh 12g
  4. Cát căn 12g
  5. Tiền hồ 4g
  6. Bán hạ ( gừng chế) 4g
  7. Trần bì 4g
  8. Chỉ xác 4g
  9. Cát cánh 4g
  10. Mộc hương 3g (cho sau)
  11. Cam thảo 3g
  12. Sinh khương 3 lát
  13. Đại táo 2 quả

13.NGỌC BÌNH PHONG TÁN (Thế y đắc hiệu phương)

  1. Hoàng kỳ 24g
  2. Phòng phong 8g
  3. Bạch truật 16g

Tác dụng: ích khí kiện tỳ, cố biểu chỉ hãn.

Trên đây là ba bài thuốc chữa cảm mạo thể lực hư yếu. Quế chi thang điều hòa dinh vệ, tăng cường thể lực khiến cho ra mồ hôi. Sâm tô ẩm trong các vị thuốc khu hàn chữa ho có gia các vị bổ khí phù chính. Ngọc bình phong tán thì ích khí đẩy tà khí ra ngoài. Tác dụng của ba bài khác nhau

Bài thuốc để chữa cảm mạo có rất nhiều, nhưng trong một số bài có thể thấy điều trị cảm mạo như nhau, yêu cầu lại khác nhau. Mặt khác cũng có thể thấy trên nguyên tắc sơ tán, mục đích lại là nhất chí. Xin đem phân tích vị thuốc trong số những bài thuốc ấy:

TÁC DỤNG VỊ THUỐC
SƠ BIỂU TÁN TÀ Ma hoàng, Quế chi, Tử tô, Kinh giới, Phòng phong, Hương nhu, Sinh khương, Thông bạch,

Bạc hà, Tang diệp, Cúc hoa, Cát căn, Đậu xị,

Khương hoạt, Độc hoạt,

TUYÊN PHẾ HÓA ĐÀM Ma hoàng, Cát căn, Ngưu bàng tử, Hạnh nhân, Tượng bối, Tiền hồ, Bán hạ, Trần bì
THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC Ngân hoa, Liên kiều, Sơn chi tử, Trúc diệp, Sinh Cam thảo
SINH TÂN NHUẬN TÁO Sa sâm, Lô căn, Lê bì
HÓA THẤP LÝ KHÍ Hậu phác, Hoắc hương, Bạch chỉ, Phục linh, Đại phúc bì, Trần bì, Chỉ xác, Mộc hương, Hương phụ
BỔ KHÍ HÒA TRUNG Hoàng kỳ, Nhân sâm, Bạch truật, Biển đậu, Hồng táo, Chích cam thảo

Những vị thuốc và bài thuốc để chữa cảm mạo đương nhiên là vẫn còn nhưng nắm vững được những vị thuốc, bài thuốc nói trên là đủ ứng dụng. Vấn đề là ở chỗ có bài thuốc tổ chức khá đơn giản, lại có một số bài thuốc khá phức tạp, làm thế nào để sử dụng cho thích đáng, tôi cho rằng phải nắm vững những phép tắc cơ bản về dùng thuốc, do đó tiến thêm bước nữa thuyết minh cụ thể như sau:

1.SƠ BIỂU

Cảm mạo đều do ngoại tà gây nên nên cần phải sơ biểu. Nhưng ngoại cảm có nặng có nhẹ, tính chất có khác nhau cần phải phân biệt. Đại khái đầu tiên hơi cảm thấy sợ gió, ớn lạnh, đầu trướng, mũi nghẹt, thiên về hàn hay thiên về nhiệt chưa rõ lắm, dùng các vị Phòng phong để tiết tà nhẹ nhàng; nếu kiêm sốt nhẹ thì gia Kinh giới, Tang diệp cho ra chút ít mồ hôi, phong nhiệt và thu táo cũng như nhau.

Cảm nhiễm phong hàn khá nặng, ớn lạnh đau đầu cũng nhiều hơn, vô luận đã qua phát sốt hoặc chưa phát sốt, đều nên dùng phép tân ôn phát hãn hoặc dùng Tử tô, Phòng phong, hoặc dùng Đậu xị, Thông bạch hoặc dùng Ma hoàng, Quế chi, về mùa hạ quen dùng Hương nhu.

Nếu là thử nhiệt kiêm phong vẫn nên dùng phép tiết tà nhẹ nhàng, gia Bội lan, Hoắc hương.

Phép sơ biểu tuy là phép chữa cảm mạo trọng yếu, nói chung chỉ nên dùng một hoặc hai vị thuốc, không nên dùng nhiều vị. Các vị Sài Hồ, Cát căn, Độc hoạt… nếu không là tình huống đặc thù cũng nên dùng ít.

2.THANH NHIỆT

Cảm mạo dùng thuốc thanh nhiệt, đa số là ở trong bài thuốc tân lương giải biểu, dùng để chữa tà khí phong nhiệt hoặc là cảm mạo phong hàn đã phát sốt, dùng phép này để giúp đỡ hiệu quả.

Các vị thường dùng là Liên kiều, Ngân hoa, Sơn chi, Hoàng cầm, khi dùng chỉ nên chọn một vài vị, về mùa hạ quen dùng Thanh cao, Lục nhất tán.

Vì phép thanh nhiệt không phải là chủ yếu trong bệnh cảm mạo, nếu quả là tách rời thuốc sơ tán, đơn thuần chỉ dùng Ngân hoa, Liên kiều làm chủ yếu là không thỏa đáng. Còn như cảm mạo phong nhiệt và thu táo dùng qua Lâu bì, Lô căn… Tuy cũng có tác dụng thanh nhiệt nhưng mục đích là ở sinh tân nhuận táo.

3.TUYÊN PHẾ

Phế chủ bì mao và quản lý Vệ khí. Thuốc sơ biểu không tách rời kinh phế. Ở đây nói tuyên Phế là chỉ tuyên thông thư sướng Phế khí để chữa các chứng trạng của tạng Phế như ngứa họng, khái thấu, đờm nhiều… Chính vì sơ biểu phải thông qua Phế kinh, tuyên phế cũng giúp đỡ cho giải biểu, khi áp dụng cần liên hệ vấn đề này.

Nói chung ngứa họng dùng Thuyền y, Bàng đại hải để tuyên tán nhẹ nhàng, khái thấu dùng Ma hoàng, Ngưu hoàng, Tiền hồ, Cát cánh, Hạnh nhân, Bối mẫu, Quất hồng… để tuyên phế hóa phong đàm. Nếu thấp nặng thì dùng Bán hạ để ôn hóa.

Cần chú ý, cảm mạo khái thấu kỵ dùng thuốc chỉ khái, vì càng “chỉ” tà khí càng không thấu, khái càng không dứt. Cho nên các vị như Tỳ bà diệp không bao giờ dùng khi mới bị cảm mạo. Nhiệt đàm, Táo đàm dùng Xuyên bối mẫu, Điềm hạnh nhân cũng thường dùng cả Tượng bối mậu và Khổ hạnh nhân.

4.KIÊM TRỊ

Dùng thuốc sơ biểu, tuyên Phế kết hợp với thuốc thanh nhiệt thích đáng, đó là phép cơ bản để chữa cảm mạo. Rất rõ ràng, phần nhiều các bài thuốc có sẵn đều tổ chức như thế. Nhưng trong cảm mạo xuất hiện các chứng trạng khác, cũng nên chiếc cố thích đáng, tức là tất yếu phải biết cách dùng thuốc.

Ví dụ: Tắc mũi, chảy nước mũi dùng Thương nhĩ tử, Tân di; đầu trướng đau dùng Cúc hoa, Mạn kinh tử; chân tay đau mỏi dùng Khương hoạt, Tang chi; họng sưng đỏ đau dùng Sơn đậu căn, ma bột; đại tiện bí kết dùng Lâu bì, Chỉ thực; ngực bụng bĩ tức dùng Uất kim, Hương phụ hoặc Cát cánh, Chỉ xác để điều khí thăng giáng…

Điều trị một bệnh nào, trước hết phải nắm vững bệnh nhân và bệnh cơ, thông qua bệnh nhân để điều trị chứng chủ yếu, các kiêm chứng khác cũng theo đó mà khỏi. Đây cũng là nói điều trị mỗi một bệnh nhân nên suy nghĩ toàn diện. Nếu quả là không chữa từ căn bản, thấu một chứng dùng một vịthuốc, sẽ tạo nên hiện tượng rối loạn. Tất cả các phép chữa cơ bản phải căn cứ vào chứng trạng cụ thể để chiếu có thích đáng, không có hạn chế cũng không xảy ra xung đột gì, khó mà tránh khỏi cái hạnh chồng giường để leo mái nhà! Cảm mạo, chính như nói chung là bệnh ngoại cảm nông nhẹ, tôi cho rằng cũng nên có nhận thức toàn diện mới có thể có suy nghĩ toàn diện trong điều trị.

(Bài giảng cho học viên thực tập tại Trung y học viện – Bắc kinh tháng 9/1963)

One thought on “LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO – ĐÔNG Y

  1. Em đang bị cảm mạo gần 2 tuần rồi mà uống thuốc ko khỏi hẳn. Lúc đầu là viêm họng, rồi sỗ mũi, sau là người nóng sợ lạnh, đau gáy, nghẹt mũi, tay chân lạnh ngắt ( e bị phong thấp). E có uống bài thuốc Nhân sâm bại độc của Yhoc dan tộc mà chưa khỏi hẳn. Anh chỉ em uống gì cho phù hợp để mau khỏi. E sưc đề kháng yếu nên đang uống viên plussez vitaminC để hỗ trợ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s