HÁO SUYỄN – HEN SUYỄN – ASTHMA

HEN  SUYỄN

(Háo Suvễn – Asthma – Asthme)


ĐẠI CƯƠNG

Hen phế quản, Đông y gọi là là Háo suyễn, Chi Khí Quản Háo Suyễn, thuộc phạm vi chứng háo xuyễn đàm ẩm, biểu hiện đặc trưng là  khó thở, chủ yếu là khó thở ra, thở khò khè, có tiếng rít . Phát bệnh ở cả 4 mùa, nhưng nhiều nhất vào lúc lạnh, thời tiết thay đổi.

  • Sách ‘Y Học Chính Truyền’ định nghĩa: “Suyễn thì thở không to, háo thì thở có tiếng”.
  • Sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: “Thở gấp là suyễn, trong họng có tiếng kêu là háo”.
  • Tuy một vài sách đã tách Háo (hen) và Suyễn ra làm hai bệnh khác nhau, tuy nhiên, trên lâm sàng, hai bệnh này thường đi đôi với nhau, xuất hiện cùng lúc và là triệu chứng chính của bệnh hen suyễn, vì vậy, về nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh, biện chứng luận trị và phương pháp điều trị có thể dùng như nhau.
  • Chứng háo suyễn thường gặp trong các bệnh hen phế quản, phế quản viêm thể hen, phế khí thủng, tâm phế mạn (hen tim) và nhiều bệnh khác như phổi viêm, áp xe phổi, bụi phổi, lao phổi, giãn phế quản…

PHÂN LOẠI

YHCT vẫn chưa thống nhất được cách phân loại Hen suyễn, để tiện việc nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi ghi lại đây một số quan điểm của người xưa:

+ Đời nhà Minh, năm 1624, Trương Cảnh Nhạc trong bộ ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ đã phân háo suyễn thành 2 loại chính là Hư và Thực (Sau này Diệp Thiên Sỹ, đời nhà Thanh, thế kỷ 17) bổ sung như sau: bệnh ở Phế là Thực, bệnh ở Thận là Hư).

+ Đời nhà Thanh (1644), Ngô Khiêm trong ‘Y Tông Kim Giám’ chia làm 5 loại: Hoả nhiệt suyễn cấp, Phế hư tắc suyễn, Phong hàn suyễn cấp, Đờm ẩm suyễn cấp, Mã tỳ phong.

+ Sách ‘Trung Y Học Nội Khoa’ dựa theo Suyễn và Háo chia thành: Thực suyễn, Hư suyễn và Lãnh háo, Nhiệt háo.

+ Ban Thế Dân trong bài ‘Thảo Luận Về Cơ Chế Và Biện Chứng Luận Trị Bệnh Hen Phế Quản’ (năm 1958) chia làm hai loại Thực và Hư.

+ Khoa phổi bệnh viện Thượng Hải chia ra: Thực Suyễn (gồm Phong hàn, Phong nhiệt, Đờm thực, Hoả uất) và Hư Suyễn (gồm Phế hư và Thận hư).

+ Trương Kim Hằng trong bài ‘Thảo Luận Về Bệnh Háo Suyễn’ trong ‘Cáp Nhĩ Tân Trung Y Tạp Chí’ số 3/1962 chia háo suyễn thành 5 loại: Hàn suyễn, Nhiệt suyễn, Tâm tạng suyễn, Thận hư suyễn, Phế và Khí quản suyễn.

+ Chu Đức Xuân trong bài ‘Nhận Xét 217 Trường Hợp Hen Điều Trị Bằng Đông Tây Y Kết Hợp’ phân thành: Hen hàn, Hen nhiệt, Hen do khí hư, Hen thể đờm thực.

NGUYÊN NHÂN

Theo y học cổ truyền: chứng hen suyễn phát sinh do 3 nguyên nhân:

  1. Ngoại Tà xâm nhập (Ngoại cảm lục dâm)
  2. Tỳ, phế, thận hư
  3. Đờm trọc nội thịnh

1.Do Ngoại Tà xâm nhập (Theo Thượng Hải và Thành Đô):

  • Thường gặp loại Phong hàn và phong nhiệt.
  • Thiên ‘Thái Âm Dương Minh Luận’ (Tố Vấn 29) viết: “Cảm phải phong tà nhập vào lục phủ sẽ phát sinh sốt không nằm được, sinh ra chứng hen suyễn”.
  • Thiên ‘Ngũ Tà’ (Linh Khu 20) viết: Bệnh tà ở Phế sẽ phát sinh đau nhức ngoài da, sợ lạnh, sốt, khí nghịch lên, thở suyễn, ra mồ hôi, ho, đau lan đến vai, lưng”.
  • Sách ‘Đan Khê Tâm Pháp’ ghi: “Do ăn uống không điều độ, do những tà khí phong, hàn, thử thấp làm cho Phế khí trướng đầy gây nên suyễn”.
  • Sách ‘Y Tôn Tất Độc’ ghi: “Chứng háo là do đờm hoả uất bên trong, cảm phong hàn bên ngoài hoặc nằm ngồi cảm phải hàn thấp”.
  • Sách ‘Y Quán’ viết: “Phong hàn thử thấp… làm cho Phế khí trướng mãn gây ra suyễn”.
  • Sách ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ viết: “Thực suyễn nếu không do phong hàn thì do hoả tà”.

2.Do Phế Thận Hư Yếu:

  • Do ho lâu ngày hoặc bệnh lâu ngày làm Phế bị suy, phế khí và đường hô hấp bị trở ngại gây nên suyễn. Hoặc do Thận hư yếu không nhuận được Phế, không nạp được khí gây nên suyễn.
  • Như vậy bệnh suyễn chủ yếu ở Phế, có quan hệ với Thận và nếu nặng hơn có quan hệ cả với Tâm. Vì theo Nội Kinh: mọi chứng ho, đầy tức, hơi thở đều thuộc về Phế. Phế chủ khí, khí chủ thăng giáng. Âm thăng dương giáng, khí thuộc dương, khí thuận (giáng) thì bình thường, Phế nghịch (đi lên) thì gây nên suyễn. Ngoài ra Tâm Phế suy yếu lâu ngày, Phế khí thiếu làm ảnh hưởng đến tim cũng gây ra suyễn. Tương ứng chứng bệnh Tâm Phế mạn của YHHĐ.
  • Sách ‘Kim Quỹ Yếu Lược’ viết: “Chứng đột nhiên suyễn, lo sợ, mạch Phù là phần lý bị hư”.
  • Sách ‘Chứng Trị Chuẩn Thằng’ viết: “Phế hư thì khí thiếu mà suyễn”.

3.Do Tỳ phế hư yếu:

  • Tỳ hư sinh đàm thấp thịnh ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc, khí đạo không thông làm cho khó thở. Hoặc bệnh lâu ngày phế hư không chủ khí sinh khí nghịch khó thở.

4.Do Đờm Trọc Nội Thịnh (Thượng Hải):

  • Do ăn uống không điều độ hoặc bừa bãi làm ảnh hưởng đến công năng vận hoá của Tỳ, tích trệ lại thấp đờm. Trong thức ăn có những chất làm tổn thương tỳ vị, tỳ vận hoá kém, thuỷ cốc dễ sinh thấp đàm ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc, phế khí bị trở ngại gây nên hen. Thường gặp ở những bệnh nhân tỳ hư, đàm thịnh. Hoặc người vốn có đờm thấp tích trệ đi ngược lên lên gây thành đờm, ủng trệ ở Phế, làm cho khí cơ và sự thăng giáng của Phế bị ngăn trở gây ra suyễn. Hoặc do Phế nhiệt nung nấu tân dịch thành đờm, đờm hoả gây trở ngại thành suyễn.
  • Sách ‘Ấu Ấu Tập Thành’ viết: “Bệnh do đờm hoả nội uất, ngoại cảm phong hàn, có lúc do ngoại cảm, có lúc do nội nhiệt, cũng có khi do tích thực…
  • Sách ‘Đan Khê Tâm Pháp’ ghi: “Do ăn uống không điều độ… làm cho Phế khí đầy trướng sinh ra suyễn”.
  • Sách ‘Chứng Trị Hối Bổ’ ghi: “Hen là đờm suyễn lâu ngày phát ra, vì bên trong có khí tắc nghẹt, bên ngoài khí hậu trái mùa tác động vào trong ngực, làm cho đờm kết lại, bế tắc đường khí, phát rá tiếng, gây ra hen”.
  • Sách ‘Nhân Trai Trực Chỉ’ viết: “Tà khí ẩn náu trong nội tạng, đờm dãi đưa lên khó thở, vì vậy khí nghịch lên gây ra thở gấp (suyễn)”.

So sánh với các nguyên nhân mà YHHĐ nêu ra, có thể thấy:

+ Tuy YHCT không nêu lên yếu tố dị ứng (allergy) và vi trùng, nhưng cũng đã thống nhất với YHHĐ về nhận định rằng sự thay đổi thời tiết, ăn uống và lao lực cũng có thể là những yếu tố gây nên hen suyễn.

+ Sự thay đổi về tinh thần như quá sợ, quá giận dữ, bi quan… cũng là những yếu tố làm cho cơ năng vỏ não hỗn loạn, gây nên sự mất thăng bằng giữa hai hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm đều là cơ địa dễ gây nên hen suyễn.

CƠ CHẾ BỆNH SINH


Sự giải thích cơ chế sinh bệnh hen suyễn theo YHCT dựa trên học thuyết Ngũ hành và Tạng phủ, trong đó, nổi bật nhất là Phế, Tỳ và Thận (Can và Tâm chỉ quan hệ một phần nhỏ).

  • Biểu hiện chủ yếu của cơn hen suyễn là khó thở và đờm uất.
  • Khó thở là do chức năng chủ khí, tuyên giáng của Phế bị rối loạn, khí không giáng xuống được mà lại đi nghịch lên gây ra khó thở.
  • Chức năng nạp khí của Thận kém (theo Nội Kinh: Thận chủ nạp khí), Thận không nạp được khí, khí không giáng xuống đi nghịch lên gây ra khó thở.
  • Tỳ thổ là mẫu (mẹ) của Phế kim, Tỳ hư không sinh được Phế làm cho Phế bị hư yếu gây nên khó thở.
  • Tỳ hư, chức năng vận hoá kém không biến thuỷ cốc thành tinh chất để nuôi cơ thể mà lại sinh ra đờm thấp, đờm bị tích lại ở Phế làm cho Phế lạc không thông, Phế khí bị uất gây ra khó thở (Đó là ý nghĩa mà sách Nội Kinh nhắc đến: Tỳ là nơi sinh đờm, Phế là nơi trữ đờm).
  • Thận hư không khí hoá nước thì thuỷ thấp dâng lên cũng sinh ra đờm làm tắc phế lạc gây ra khó thở.
  • Thận dương hư không ôn tỳ dương, chức năng vận hoá thuỷ cốc của tỳ suy giảm, và thận không khí hoá nước, phế khí không túc giáng được thông điều thuỷ đạo sinh nhiều đàm gây khó thở, ngực đầy tức.

Ngoài ra, theo quy luật tương khắc của ngũ hành:

  • Kim vốn khắc Mộc nhưng nếu Phế kim hư thì mộc có thể phản khắc làm cho Phế hư thêm (vì vậy đa số người bệnh lên cơn khó thở vào khoảng nửa đêm, giờ của mộc khí vượng (Tý-Đởm 23-1g, Sửu-Can 1-3g).
  • Tâm hoả vốn khắc Phế kim, tâm chủ thần, vì vậy, sự rối loạn về tinh thần cũng ảnh hưởng đến Phế.

CHỨNG TRẠNG

A.THỰC SUYỄN


1.THỂ PHONG HÀN PHẠM PHẾ (HEN HÀN, LÃNH HÁO)

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp, khò khè, đoản hơi, ngực tức
  • Ho có đờm loãng, có bọt dễ khạc.
  • Lúc mới bị thường sợ lạnh, đầu đau, cơ thể đau nhức, không có mồ hôi, không khát, thích ấm
  • Đại tiện nhão, tiểu trong dài
  • Sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng mỏng,
  • Mạch Phù (Thượng Hải), mạch Phù Khẩn (Thành Đô).
  • Khẩn Hoạt hoặc Huyền tế

b.Biện chứng:

Phế chủ hô hấp, bì mao, khi bị phong tà xâm nhập vào làm cho bế tắc bên ngoài, phế khí bị uất không thăng giáng được gây ra ho, suyễn, tức ngực. Vì phong hàn bế ở bên ngoài và kinh lạc, do đó, thấy sợ lạnh, đầu đau, không ra được mồ hôi. Mạch Phù là bệnh ở phần Biểu, Khẩn là biểu hiện của hàn.

c.Pháp:

Ôn Phế tán hàn, hóa đàm, định suyễn

d.Phương:

  1. Tam Cao Thang Gia Vị (Hoà Tễ Cục Phương) (NKHT. Hải)
  2. Ma Hoàng Thang (Thương Hàn Luận) (NKHT.Đô)
  3. Tô Tử Giáng Khí Thang (Cục Phương) T YNKHG Nghĩa)
  4. Tiểu Thanh Long Thang (Thương Hàn Luận) T YNKHG Nghĩa)
  5. Linh Quế Truật Cam Thang (Thương Hàn Luận) (T YNKHG Nghĩa)
  6. Xạ can ma hoàng thang (TBTYKN. Phương)
  7. Trị Suyễn Phương (TQĐĐBP Đại Toàn)
  8. Lãnh Háo Thang (TBTYHK. Yếu)
  9. Tam tử dưỡng thân thang (Hàn thị Y thông)

2.THỂ PHONG NHIỆT PHẠM PHẾ (HEN NHIỆT, NHIỆT HÁO)

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp, khò khè, đoản hơi, ngực tức, khàn tiếng, tắc tiếng
  • Ho đờm vàng đặc, dính
  • Người nóng, bứt rứt, bực bội, sốt, ra mồ hôi, miệng khô, khát nước,
  • Đại tiện táo, tiểu vàng ít
  • Mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng
  • Mạch Phù Sác (T. Hải), Phù Hồng Sác (T. Đô)

b.Biện chứng:

Bên trong đang có nhiệt lại cảm phải táo và nhiệt ở bên ngoài, hai thứ nhiệt nung đốt Phế, Phế bị nhiệt gây ra ho, suyễn, sốt, mồ hôi ra, Phế và Vị có nhiệt ứ trệ sẽ sinh ra khát, miệng khô, buồn bực. Tâm chủ tiếng nói, Phế chủ âm thanh, nhiệt nung đốt Tâm và Phế gây ra khan tiếng, tắc tiếng. Rêu lưỡi vàng, lưỡi đỏ, mạch Hồng Sác là dấu hiệu nhiệt ở thượng tiêu, Tâm, Phế. Mạch Phù là bệnh ở biểu.

c.Pháp:

Thanh Phế nhiệt, hóa đàm, định suyễn

d.Phương:

  1. Ma Hạnh Thạch Cam Thang (NKHT.Hải)
  2. Định Suyễn Thang (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương) (Trung Y Nội Khoa Học Giảng Nghĩa)
  3. Chỉ Háo Định Suyễn Thang (TQĐĐDYNPĐ.Toàn)
  4. Đình lịch tả phế thang gia giảm

3.THỂ ĐỜM TRỌC NGĂN PHẾ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi, ngực tức
  • Ho, đờm  nhiều nặng thì ho đờm  vướng sặc
  • Hông ngực đầy tức
  • Miệng nhạt, ăn không biết ngon
  • Rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Hoạt

b.Biện chứng:

Đờm trọc ủng tắc ở Phế, làm cho Phế khí không thông giáng xuống được gây ra khó thở, đờm nhiều. Đờm thấp ủng trệ ở Tỳ Vị gây ra hông ngực buồn bực, miệng nhạt, ăn không biết ngon. Mạch Hoạt là biểu hiện của đờm trọc.

c.Pháp:

Tiêu đờm, giáng khí, định suyễn

d.Phương:

  1. Tam Tử Thang
  2. Nhị Trần Thang hợp Tam Tử Thang gia giảm (NKHT.Hải)
  3. Tả Bạch Tán (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết) (TYNKHG.Nghĩa)
  4. Tiền Hồ Thang gia vị (TGD.Phương)

2.HƯ  SUYỄN

PHẾ HƯ

1.THỂ PHẾ KHÍ HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi, ngực tức
  • Mệt mỏi, biếng nói, tiếng nói thấp nhỏ
  • Ho không có sức, đàm nhiều trong loãng
  • Sợ lạnh, tự hãn, cảm lạnh dễ tái phát cơn hen, ngạt mũi, chảy nước mũi.
  • Sắc mặt trắng, sắc môi nhạt
  • Tiểu trong, nhiều
  • Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng
  • Mạch Nhuyễn Nhược (Thượng Hải), mạch Hư Nhược (Thành Đô)

b.Biện chứng:

Phế chủ khí, Phế hư vì vậy khí yếu, thở ngắn, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi. Vệ khí không vững vì vậy sợ gió, họng khan, rát, miệng khô, khí huyết hư yếu nên thấy mạch Nhược.

c.Pháp:

Bổ phế, liễm khí,  hóa đàm định suyễn

d.Phương:

  1. Bổ Phế Thang (Vân Kỳ Tử Bảo Mệnh Tập ) (NKHT.Đô)
  2. Sâm Giới Tán gia vị (TGD.Phương)
  3. Sâm Cáp Ma Hạnh Cao (TQĐĐDYNPĐ Toàn)
  4. Ngọc bình phong tán gia Hải phù thạch, Tô tử
  5. Hoàng kỳ quế chi thang
  6. Tứ quân tử thang (Hòa tễ cục phương) gia Hoàng kỳ, thêm các vị có tác dụng liễm phế như Bạch quả, Ngũ vị tử, Anh túc xác

2.THỂ PHẾ ÂM HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi, ngực tức
  • Người gầy
  • Ho đàm ít, vàng, đặc, dính
  • Người nóng, lòng bàn tay chân nóng, đạo hãn, về chiều gò má đỏ hoặc triều nhiệt hoặc ngũ tâm phiền nhiệt
  • Miệng khát, họng khô, thích uống
  • Tiểu vàng, ít, đại tiện táo
  • Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít rêu hoặc không rêu hoặc vàng
  • Mạch Tế Sác

b.Biện chứng:

c.Pháp:

Tư âm bổ phế, hóa đàm định suyển

d.Phương:

1.Sinh Mạch Tán Gia Vị (Y Học Khải Nguyên, Q. Hạ) (NKHT.Hải)

TỲ HƯ


1.THỂ TỲ KHÍ HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi
  • Mệt mỏi, biếng nói
  • Ho không có sức, nhiều đàm
  • Chán ăn, trướng bụng, đại tiện lỏng
  • Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, ướt, to bệu có dấu răng
  • Mạch Hoãn Tế vô lực

b.Biện chứng:

c.Pháp:

Bổ Tỳ ích Vị, hóa đàm định suyễn

d.Phương:

  1. Lục quân tử thang
  2. Lục quân tử thang + Nhị trần thang gia vị
  3. Sâm linh bạch truật tán. Trướng bụng gia Chỉ xác, Mộc hương. Chán ăn gia Mạch nha, Cốc nha

2.THỂ TỲ DƯƠNG HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi
  • Mệt mỏi, biếng nói
  • Ho không có sức, nhiều đàm, trong loãng
  • Chán ăn, trướng bụng, đại tiện lỏng
  • Sợ lạnh, người lạnh, tay chân lạnh, tự hãn
  • Sắc mặt trắng, sắc môi nhạt
  • Tiểu trong, nhiều
  • Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, ướt, to bệu có dấu răng
  • Mạch Trì Tế vô lực

b.Biện chứng:

c.Pháp:

Ôn trung kiện tỳ, hóa đàm định suyễn

d.Phương:

1.Phụ Quế lý trung thang gia giảm

THẬN HƯ


1.THỂ  THẬN ÂM HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi, động làm thì suyễn tăng
  • Ho không có sức, đàm ít, vàng, đặc, dính
  • Người gầy, nóng, lòng bàn tay chân nóng, đạo hãn, về chiều gò má đỏ hoặc triều nhiệt.
  • Chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, hay mơ, hồi hộp, di tinh, tảo tinh
  • Miệng khát, họng khô, thích uống
  • Tiểu vàng, ít, đại tiện táo
  • Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, ít rêu hoặc không rêu
  • Mạch Trầm Tế Sác

b.Biện chứng:

c.Pháp:

Tư âm bổ thận, hóa đàm định suyễn

d.Phương:

1.Lục vị địa hoàng hoàn

2.THỂ THẬN DƯƠNG HƯ

a.Chứng trạng:

  • Thở gấp (suyễn), khò khè (háo), đoản hơi
  • Mệt mỏi, biếng nói
  • Ho không có sức, nhiều đàm, trong loãng
  • Sợ lạnh, người lạnh, tay chân lạnh, tự hãn, sắc mặt trắng xanh, sắc môi nhạt, có khi tay chân và mặt phù nhẹ
  • Chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối, di tinh, tảo tinh
  • Không khát, thích ấm
  • Tiểu trong, nhiều, hoặc tiểu ít, tiểu đêm, đại tiện lỏng nhão
  • Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, ướt, to bệu
  • Mạch Trầm Trì Tế

b.Biện chứng:

Thận là gốc của khí, Thận yếu không thu nạp được khí vì vậy sinh ra thở ngắn, cử động mạnh thì thở nhiều. Trung tiêu dương khí hư vì vậy ăn uống không tiêu, làm cho cơ thể gầy ốm. Vệ khí yếu vì vậy sợ gió, ra mồ hôi. Dương khí yếu thì chân tay lạnh. Mạch Trầm Tế là biểu hiện của Thận hư, dương khí suy.

c.Pháp:

Ôn dương bổ Thận, hóa đàm định suyễn

d.Phương:

  1. Kim Quĩ Thận Khí Hoàn
  2. Bổ dương hoàn
  3. Phế thận hoàn


CHÂM CỨU


THAM KHẢO

THỰC SUYỄN

HEN HÀN

1-Bình suyễn, giáng nghịch, tuyên Phế, hóa đàm.

Dùng phép cứu hoặc châm lưu kim huyệt Đàn Trung (Nh17) + Định Suyễn + Thiên Đột (Nh.22) + Toàn Cơ (Nh.21) có thể phối hợp thêm Đại Chùy (Đc.14) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Phong Long (Vi.40) + Quan Nguyên (Nh.4) + Túc Tam Lý (Vi.36).

Cách châm: Định Suyễn lưu kim, vê kim vài phút, Thiên Đột không lưu kim, Toàn Cơ, Đàn Trung. Lúc châm phải hướng mũi kim ra 4 phía, châm xiên khoảng 0, 1 thốn, lưu kim, vê vài phút.

Gia giảm: Đờm nhiều thêm Phong long. Kèm viêm đường hô hấp thêm Đại chuỳ, Hợp cốc. Suyễn lâu ngày thêm Quan nguyên, Túc tam lý.

Ý nghĩa: Định Suyễn là huyệt đặc hiệu để làm ngưng cơn suyễn; Thiên Đột, Đàn Trung để thuận khí, giáng nghịch; Tuyền Cơ để tuyên Phế khí ở Thượng tiêu. Phong Long hóa đàm, giáng trọc; Quan Nguyên + Túc Tam Lý kiêm bổ Tỳ, Thận, trị bản bồi nguyên; Đại Chùy + Hợp Cốc sơ tà giải biểu.

(Châm Cứu Học Thượng Hải)

2- Cứu Hoa Cái (Nh.20) + Phế Du (Bq.13) + Thiên Phủ (P.3) + Trung Phủ (P.1) + Vân Môn (P.2)

(Châm Cứu Tụ Anh)

3- Cao Hoang (Bq.43) + Du Phủ (Th.27) + Đản Trung (Nh.16) + Khí Hải (Nh.6) + Nhũ Căn (Vi.18) + Phế Du (Bq.13) + Quan Nguyên (Nh.4) + Thiên Đột (Nh.22) + Trung Quản (Nh.12) + Túc Tam Lý (Vi.36)

(Châm Cứu Đại Thành)

4- Đàn Trung (Nh.17) + Hoa Cái (Nh.20) + Kiên Tỉnh (Đ.21) + Kiên Trung Du (Ttr.15) + Thái Uyên (P.9) + Túc Tam Lý (Vi.36) (đều cứu) + Tuyền Cơ (Nh.21)

(Loại Kinh Đồ Dực)

5- Cứu Chí Dương (Đc.9) + Đàn Trung (Nh.17) + Khí Hải (Nh.6) + Kỳ Môn (C.14) + Toàn Cơ (Nh.21), mỗi huyệt 3 tráng

(Cảnh Nhạc Toàn Thư)

6- Tuyên thông Phế khí, điều hòa kinh khí của Tỳ vị. Dùng châm lưu kim hoặc cứu Đàn Trung (Nh.17) + Liệt Khuyết (P.7) + Phong Long (Vi.40) + Phế Du (Bq.13) + Thiên Đột (Nh.22) + Trung Quản (Nh.12).

Ý nghĩa: Đàn Trung là huyệt hội của khí, hợp với Phế Du + Liệt Khuyết để tăng cường tác dụng tuyên thông Phế khí. Thiên Đột làm thông họng, điều hòa Phế. Trung Quản + Phong Long điều hòa kinh khí của Tỳ vị, làm cho Tỳ khí lưu thông, Thuỷ dịch không thể ngưng trệ lại thành đờm (đó là phép trị bản )

(Châm Cứu Học Giảng Nghĩa )

7- Cứu Cao Hoang (Bq, 43) + Đàn Trung (Nh.17) + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Thiên Đột (Nh.22) + Túc Tam Lý (Vi.36)

(Trung Y Học Khái Luận)

7- Cao Hoang Du (Bq.43) + Đàn Trung (Nh.17) + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Trung Quản (Nh.12)

(Châm Cứu Trị Liệu Học).

8- Cứu Cao Hoang (Bq.43) + Đại Chùy (Đc.14) + Đại Trữ (Bq.11) + Đàn Trung (Nh.17) + Khí Hải (Nh.4) + Linh Đài (Đc.10) + Phách Hộ (Bq.42) + Phong Môn (Bq.12) + Phụ Phân (Bq.41) + Thần Đường (Bq.44) + Thiên Đột (Nh.22)

(Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học)

9- Đàn Trung (Nh.17) + Đốc Du (Bq.16) + Kiên Tỉnh (Đ.21) + Khí Hải (Nh.6) + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Thiên Đột (Nh.22) + Trung Quản (Nh.12) + Túc Tam Lý (Vi.36)

(Trung Quốc Châm Cứu Học).

10- Ôn Phế, tán hàn, khứ đàm, bình suyễn.

Châm + cứu Khí Suyễn + Khúc Trì (Đtr.11) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Thận Du (Bq.23) + Thiên Đột (Nh.22) + Trung Phủ (P.1) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tỳ Du (Bq.20).

Ý nghĩa: Khí suyễn là huyệt đặc hiệu trị suyễn, Trung Phủ để thông điều Phế, Thiên Đột để khu đờm, thông lợi Phế khí (đây là 3 huyệt chính để trị hen suyễn), Khúc Trì để khu tà, Phong Long + Túc Tam Lý để tiêu đờm hạ khí, Phế Du tăng tác dụng tuyên thông Phế khí, Tỳ Du tăng sức vận hóa của Tỳ, hóa đàm trừ thấp, Thận Du để ôn Thận, nạp khí

(Châm Cứu Học Việt Nam)

11- Đại Chùy (Đc.14) + Đàn Trung (Nh.17) + Định Suyễn + Liệt Khuyết (P.7) + Phong Môn (Bq.12) (Bình bổ bình tả)

(Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn)

12.Thực Suyễn: Dùng kinh huyệt thủ Thái âm làm chính. Châm tả Đản trung, Liệt khuyết, Phế du, Xích trạch. Phong hàn thêm Phong môn. Đờm nhiệt thêm Phong long.

(Liệt khuyết, Xích trạch tuyên thông Phế khí, Phong môn sơ thông kinh khí ở biểu để giúp cho Phế khí thông; Chiên trung, Phế du điều Phế, thuận khí. Hợp với Phong long để hoà Vị, hoá đờm, trị suyễn).

(Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).

13. Khí hộ, Vân môn, Thiên phủ, Thần môn

(Thiên Kim Phương).

14. Vân môn, Nhân nghênh (ho suyễn cấp). Thiên đột, Hoa cái (suyễn nhiều). Phách hộ, Thiên phủ (suyễn đờm nhiều)

(Tư Sinh Kinh).

15. Cứu Phế du, Cao hoang, Thiên đột, Chiên trung, Liệt khuyết, Túc tam lý, Phong Long

(Thần Cứu Kinh Luận).

16. Châm tả Liệt khuyết, Xích trạch, Phong môn, Phế du, Định suyễn (Liệt khuyết, Xích trạch là cách phối huyệt Lạc với huyệt Hợp để tuyên thông Phế khí; Phong môn Phế du sơ phong, giải biểu, tuyên Phế, hoá đờm; Định suyễn giáng khí, bình suyễn)

(Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học)

17. Định Suyễn, Phong Môn thấu Phế Du.

. Phong Hàn thêm Hiệp Cốc, Liệt Khuyết, Suyễn Tức hoặc Thiên Đột, Khổng Tối.

. Đờm nhiều thêm Túc Tam Lý, Phong Long.

. Hơi thở ngắn thêm Quan Nguyên, Chiên Trung.

. Ho nhiều thêm Xích Trạch, Thái Khê.

(Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí 1987, 11).

18.Trung Hoa bí thuật trị liệu

+ Châm huyệt Khổng tối, sâu 0,5-0,5 thốn. Khi đắc khí thì dùng phép tả, đưa luồng dẫn truyền lên đến ngực, lưu kim 30 – 60 phút (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Châm huyệt Định Suyễn, châm bình bổ bình tả, lưu kim 30 phút (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Châm huyệt Ngư Tế một bên, ngày châm một lần hoặc khi lên cơn thì châm, luân phiên huyệt bên phải, bên trái. Mũi kim hướng về phía lòng bàn tay, sâu 0,5 thốn. Lưu kim 20-30 phút. Cứ 5 phút vê kim một lần. 10 lần là một liệu trình hoặc khi lên cơn thì châm (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Dùng vị Ma hoàng, Tế tân, Can khương đều 15g, Bạch giới tử 30g. Tán bột, trộn với 50g bột mì. Mỗi lần dùng 6g trộn với dầu (mè, dừa…) và 1 ít Xạ hương cho sền sệt, dán vào huyệt Phế du 2 bên. Cách 2 ngày thay thuốc một lần. Đắp thuốc liên tục 3 lần. Khi đắp thuốc vùng huyệt sẽ cảm thấy tê, nóng (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Người bệnh hơi ngửa cổ, châm vào huyệt Thiên Đột sâu 0,2 thốn, xoay mũi kim hướng xuống phía dưới, áp sát mép sau cuống họng, từ từ đẩy kim vào sâu đến 0,5 thốn, khi có cảm giác căng, tức, vê kim về bên trái, bên phải 10 – 20 giây. Lưu kim 5-15 phút (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Châm huyệt Nội Quan, khi đắc khí, dùng phép tả, dẫn khí lên đến nách, bệnh chứng sẽ giảm. Khoảng 6 phút, cơn suyễn sẽ giảm, lưu kim ½ giờ rồi rút kim (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

+ Châm huyệt Phù Đột 2 bên, làm sao cho có cảm giác căng tức từ cổ truyền xuống ngực, trong ngực cảm thấy nóng là được (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu)

19.Dùng kim Tam lăng châm huyệt Tứ Phùng nặn ra chất nước dịch mầu vàng. Ba ngày làm một lần.

20. Chỉ dùng huyệt Nội quan trị hen suyễn có kết quả tốt

(Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1959, 12).

21. Suyễn tức, Hợp cốc, Chiên trung, Cự cốt, Phế du, Khúc trì, Thái uyên. Trong đó thường dùng nhiều nhất là Suyễn tức và Hợp cốc Trị 26 ca đều có kết quả tốt

(Lý Diệu – Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1959, 12).

22. Chỉ châm huyệt Ngư tế. Mỗi lần chỉ châm 1 huyệt. Mỗi ngày hoặc mỗi lần lên cơn suyễn, châm 1 lần. Châm đắc khí, hướng mũi kim về hướng lòng bàn tay, sâu khoảng 0,5 thốn về phía bên trái, bên phải. Lưu kim 20-30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 10 lần là một liệu trình, hoặc khi phát cơn thì châm

(Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí 1985, 4).

23. Cứu thành sẹo Đại chuỳ, Thiên đột, Phế du trị 157 ca có kết quả tốt

(Chu Thoả Công, Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1963, 11).

24. Cứu Đại chuỳ, Phế du (2 bên). Mỗi ngày cứu 1 cặp huyệt. 3 ngày là một liệu trình. Hoặc dùng Thiên đột, Phế du (2 bên), Linh đài. Mỗi ngày cứu 1 cặp huyệt. 3 ngày là một liệu trình

(Hồ Nam Trung Y Tạp Chí 1986, 40).

HEN NHIỆT

1- Đàn Trung (Nh.17) + Định Suyễn + Thiên Đột (Nh.22) + Toàn Cơ (Nh.21). Thêm Đại Chùy (Đc.14) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Phong Long (Vi.40) + Quan Nguyên (Nh.4) + Túc Tam Lý (Vi.36).

Định suyễn là huyệt đặc hiệu để làm ngưng cơn suyễn; Thiên Đột, Đàn Trung để thuận khí, giáng nghịch; Toàn Cơ để tuyên Phế khí ở Thượng tiêu. Phong Long hóa đàm, giáng trọc; Quan Nguyên + Túc Tam Lý kiêm bổ Tỳ, Thận, trị bản bồi nguyên; Đại Chùy + Hợp Cốc sơ tà giải biểu

(Châm Cứu Học Thượng Hải)

2- Đản Trung (Nh.17) + Giải Khê (Vi.41) + Kiên Trung Du (Ttr.15) + Thiên Đột (Nh.22) + Thiên Trì (Tb.1)

(Tư Sinh Kinh)

3- Đàn Trung (Nh.17) + Định Suyễn+ Phế Du (Bq.13) + Thiên Đột (Nh.22) (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).

4- Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Thiên Đột (Nh.22) + Thiếu Thương (P.11) [đều tả]

(Châm Cứu Trị Liệu Học).

5- Tuyên giáng khí của Phế, Vị.

Châm (không lưu kim) Đàn Trung (Nh.17) + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) +Thiên Đột (Nh.22) + Trung Quản (Nh.12).

Ý nghĩa: Đàn Trung là huyệt hội của khí toàn cơ thể, hợp với Phế Du + Liệt Khuyết để tăng tác dụng tuyên thông Phế Khí; Thiên Đột làm thông họng, điều hòa Phế; Trung Quản + Phong Long điều hòa khí ở hai kinh Tỳ và Vị, làm cho Thuỷ dịch không ngưng kết lại thành đờm được [trị theo gốc]

(Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).

6- Châm Đại Chùy (Đc.14) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Liệt Khuyết (P.11) + Phế Du (Bq.13) + Phong Môn (Bq.12)

(Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học).

7- Cao Hoang (Bq.43) + Đại Trữ (Bq.12) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Khí Hộ (Vi.13) + Kiên Ngoại Du (Ttr.14) + Phế Du (Bq.13) + Phong Trì (Đ.20) + Phụ Phân (Bq.41) + Quyết Âm Du (Bq.14) + Tâm Du (Bq.15) + Thiên Trụ (Bq.10)

(Tân Châm Cứu Học).

8- Đại Chùy (Đc.14) + Đàn Trung (Nh.17) + Định Suyễn + Nội Quan (Tb.6) + Phong Long (Vi.40) + Trung Suyễn

(Thực Dụng Trung Y Liệu Pháp Thủ Sách).

9- Cao Hoang (Bq.43) + Phế Du (Bq.13) + Phong Môn (Bq.12) + Tâm Du (Bq.15) + Thân Trụ (Đc.13)

(Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

10- Đại Chùy (Đc.14) + Đàn Trung (Nh.17) + Khổng Tối (P.6) + Kinh Cừ (P.8) + Linh Đài (Đc.10) + Liêm Tuyền (Nh.23) + Liệt Khuyết (P.7) + Ngọc Đường (Nh.18) + Ngư Tế (P.10) + Nội Quan (Tb.6) + Thiên Đột (Nh.22) + Thiên Phủ (P.3) + Thái Uyên (P.9) + Thương Dương (Đtr.1) + Trung Đình (Nh.16) + Trung Phủ (P.1) + Vân Môn (P.2) + Xích Trạch (P.5)

(Châm Cứu Học HongKong).

11- Định Suyễn + Hợp Cốc (Đtr.4) + Phong Long (Vi.40) + Phong Môn (Bq.12) + Xích Trạch (P.5) châm tả

(Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn).

12- Sách Châm Cứu Trị Liệu Học còn phân ra:

a-Thực Suyễn: Đàn Trung (Nh.17) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Phong Môn (Bq.12) + Xích Trạch (P.5) (đều tả).

c-Suyễn do Ngoại Cảm Phong Hàn: Hợp Cốc (Đtr.4) + Ngoại Quan (Ttu.5) [đều tả].

(Châm Cứu Trị Liệu Học)

13- Sách ‘Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn’ chia ra:

a) Suyễn do thấp nhiệt: Thanh nhiệt, táo thấp: Tả Xích Trạch (P.5) + bổ Tỳ Du (Bq.20) +Thương Khâu (Ty.5) thêm Trung Quản (Nh.12) + Phong Long (Vi.40) + Thiên Đột (Nh.22).

b)Suyễn do thực Nhiệt: Ích Khí, dưỡng Âm: Cao Hoang (Bq.43) + Thái Khê (Th.3) + Thái Uyên (P.9) châm bổ hoặc thêm cứu.

c) Do Phế Nhiệt: Tả Phế, thanh nhiệt: Châm tả Đại Đô (Ty.2) + Liệt Khuyết (P.7) + Xích Trạch (P.5).

d)Do Đờm Thực: Tả Phế, thanh đờm: châm tả Đàn Trung (Nh.17) + Định Suyễn + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Vân Môn (P.2) .

(Châm Cứu Đại Toàn)

14.Châm (không lưu kim) Khí suyễn, Thiên đột, Trung phủ, Khúc trì, Phong long, Túc tam lý.

(Khí Suyễn là huyệt đặc hiệu để trị suyễn; Trung Phủ để điều Phế; Thiên Đột khu đàm, thông lợi Phế khí; Khúc Trì thanh nhiệt; Phong Long, Túc Tam Lý tiêu đàm, hạ khí, thêm Phế Du tăng tác dụng của Thiên đột, Trung phủ để tuyên thông Phế khí; Tỳ Du tăng sức vận hoá của Tỳ, hoá đàm, trừ thấp; Thận Du bổ thận nạp khí).

(Châm cứu học Việt Nam)

15. Định Suyễn, Thiên đột, Phế du, Chiên trung.

(Trung Quốc châm cứu học khái yếu)

16. Suyễn Do Đờm Trọc: Thanh nhiệt, hoá đờm, bình suyễn. Châm tả Hợp cốc, Đại chuỳ, Xích trạch, Phế du, Phong long, Định suyễn, Nội quan (Hợp cốc, Đại chuỳ sơ biểu, tán nhiệt; Xích trạch, Phế du, Định suyễn tuyên thông Phế khí, giáng nghịch, chỉ khái; Phong long hoá đờm, giáng trọc; Nội quan bình suyễn, chỉ khái, thuận khí, khoan hung

(Tân Biên Châm Cứu trị Liệu Học).

HƯ SUYỄN

Hư Suyễn: Điều bổ Phế và Thận. Châm bổ hoặc cứu Phế du, Cao hoang, Khí hải, Thận du, Túc tam lý, Thái uyên, Thái khê.

(Thái uyên là huyệt Nguyên của Phế; Thái khê là huyệt Nguyên của kinh Thận. Để bổ khí cho 2 tạng Phế và Thận; Phế du, Cao hoang để bổ thượng tiêu, Phế khí; Thận du, Khí hải bồi bổ hạ tiêu, Thận khí; Túc tam lý để điều hoà Vị khí, bồi dưỡng nguồn sinh hoá hậu thiên, làm cho thuỷ cốc tinh vi đi lên, quy về Phế, giúp Phế khí đầy đủ thì bệnh sẽ tự khỏi)

(Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).

Suyễn Do Hư Chứng: Ích Phế, kiện Tỳ, bổ Thận, hoá đờm, bình suyễn, chỉ khái. Châm bổ Phế du, Cao hoang du, Tỳ du, Túc tam lý, Khí hải, Thận du (Phế du, Cao hoang du để bổ Phế, ích khí; Tỳ du, Túc tam lý kiện Tỳ Vị, dưỡng hậu thiên; Khí hải, Thận du bồi bổ Thận khí).

Hư Suyễn: Cao Hoang (Bq.43) + Khí Hải (Nh.6) +, Quan Nguyên (Nh.4) + Thận Du (Bq.23) + Túc Tam Lý (Vi.36) (đều bổ).

(Châm Cứu Trị Liệu Học:)

Do Phế Âm Hư : Bổ Phế, dưỡng Âm: Châm bổ Cao Hoang (Bq.43) + Định Suyễn + Khí Hải (Nh.6) + Phế Du (Bq.13) + Thái Khê (Th.3) + Thái Uyên (P.9).

Do Thận Âm Hư : Tư Âm, bổ Thận: châm bổ Thái Khê (Th.3) + Thận Du (Bq.23) + Cao Hoang (Bq.43).

Do Thận Dương Hư: Bổ Thận, nạp khí: Châm bổ + cứu Khí Hải (Nh.6) + Mệnh Môn (Đc.4) + Phế Du (Bq.13) + Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Tiêu Du (Bq.22) + Thận Du (Bq.23).

Do Tâm Dương Hư: Ôn bổ Tâm dương: châm bổ + cứu Cự Khuyết (Nh.4) + Khí Hải (Nh.6) + Mệnh Môn (Đc.4) + Quan Nguyên (Nh.4) + Tâm Du (Bq.15) + Thái Uyên (P.9).

Cứu giữa đốt sống cổ 3 và 4, Cưu Vĩ (Nh.5) + Đàn Trung (Nh.17) + Liệt Khuyết (P.7) + Phế Du (Bq.13) + Quan Nguyên (Nh.4) + Thiên Đột (Nh.22) + Thiên Liêu (Ttu.15) + Thiên Tông (Ttr.11) mỗi huyệt 20 tráng trở lên

(Hiện Đại Châm Cứu Trị Liệu Lục).

Đại Chùy (Đc.14) + Định Suyễn + Phong Trì (Đ.20). Hợp với Liệt Khuyết (P.7) + Nội Quan (Tb.6) + Phế Du (Bq.13) + Phong Long (Vi.40) + Phục Lưu (Th.7) + Tâm Du (Bq.15) + Thái Khê (Th.3) + Thận Du (Bq.23) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Xích Trạch (P.5), Lưu kim 20 phút rồi rút kim

(Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí số 21/1986).

– Cứu thành sẹo đẻ trị suyễn. Lúc không lên cơn, chủ yếu cứu Đại chuỳ, Chiên trung. Lúc lên cơn, chia làm ba loại:

a) Thể Phế suyễn: chọn huyệt Đại chuỳ, Phế du, Phong môn, Chiên trung, Thiên đột.

b) Tỳ suyễn: Đại chuỳ, Phế du, Cao hoang, Trung quản.

c) Thận suyễn: Đại chuỳ, Khí hải, Thận du, Phế du, Cao hoang.

(Lý Chí Minh, Thượng Hải Trung Y Dược tạp Chí 1962, 2).

Ở Trung Quốc, trong vài chục nǎm gần đây đã có hơn 70 công trình nghiên cứu sử dụng kỹ thuật châm cứu để điểu trị hen phế quản. Chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm của các nhà châm cứu nước bạn để các độc giả tiện bề tham khảo thêm.

+ Vương Toàn Thụ (1988) xây dựng phác đồ trên cơ sở biện chứng phân bệnh thành 4 thể loại:

(1) Phế Hư. huyệt chính gồm Định suyễn, Thái uyên, châm bình bổ, bình tả. Huyệt phụ gồm Chiên trung, Thiên lịch, châm tả.

Định suyễn châm xiên hướng về cột sống sâu chừng 1 thốn, Thái uyên châm thẳng sâu 0,5 thốn, lưu kim 10 – 20 phút. Hiệu quả đạt 94,87%.

(2) Thận Hư: huyệt chính gồm Định suyễn, Thái uyên. Huyệt phụ gồm Thận du, Thái khê. Hiệu quả đạt 78,57%.

(3) Phong Hàn: huyệt chính Định suyễn, Thái uyên. Huyệt phụ gồm Phong trì, Phong môn. Trị liệu 71 ca, đạt hiệu quả 98,65%.

(4) Phong Nhiệt: huyệt chính Định suyễn, Thái uyên. Huyệt phụ gồm Đại chuỳ, Hợp cốc. Trị liệu 41 ca, đạt hiệu quả 97,56% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Hà Thụ Hoè (1981) chọn Chiên trung, Nội quan, Liệt khuyết, Túc tam lý và Phong trì; Phế hư

thêm Thái khê, Thái bạch; Tỳ hư thêm Thái bạch, Tam âm giao; Thận hư thêm Thái khê hoặc Chiếu hải; Đờm trệ thêm Phong long.

Tuỳ theo bệnh tình cụ thể hư thì bổ, thực thì tả, lưu kim 20 phút. Châm cách nhật, 10 lần là một liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ một tuần. Trị 62 ca, đạt hiệu quả 87,1% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Quách Liên Hán (1990) dùng Phế du, Định suyễn, Liệt khuyết, Thiên đột, Chiên trung. Thời kỳ phát tác thêm Hợp cốc, Nội quan, Khúc trì; Thời kỳ hoãn giải thêm Phế du, Túc tam lý, Tam âm giao; Cơn hen liên tục thêm Thận du, Phong long, Huyết hải. Châm lưu kim 20 – 30 phút, mỗi tuần châm một lần, liên tục 4 – 6 lần là một liệu trình. Trị 150 ca, đạt hiệu quả 93,3% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Yêu Trung Bá (1990) dựa theo Tiêu và Bản để chọn huyệt châm.

. Trị tiêu chọn Định suyễn, Liệt khuyết, Hợp cốc, Chiên trung, Xích trạch.

. Trị bản chọn Phế du, Linh đài, Thận du, Túc tam lý, Thái khê, Thiên đột.

Thời kỳ phát tác trị tiêu dùng tả pháp, thời kỳ hoãn giải trị bản dùng bình bổ bình tả pháp. Mỗi ngày châm một lần, lưu kim 10 phút, 10 ngày là một liệu trình, mỗi liệu trình cách nhau 10 ngày. Trị 69 ca, đạt hiệu quả 89,8% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Tôn Lợi Nhân (1959) dùng đơn huyệt Nội quan cả hai bên, nam châm bên trái trước, nữ châm bên phải trước. Hai huyệt phân biệt thủ pháp bổ tả: hư chứng trước bổ sau tả, thực chứng trước tả sau bổ, lưu kim 3 phút, về kim 7 lần, lay kim lên xuống 7 lần. Trị 285 ca đạt kết quả rất tốt (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Triệu Hành Toàn (1977) châm huyệt Thanh suyễn (nằm ở giữa sụn giáp và huyệt Thiên đột, tương ứng với chỗ tiếp giáp giữa sụn nhẫn và khí quản), dùng kim hào châm dài 1 thốn châm chếch lên trên sâu 0,3 -0,5 thốn sao cho bệnh nhân có cảm giác căng tức nhiều, khi đó rút kim lên một ít rồi lại đưa kim xuống theo các hướng xuống dưới, sang phải, sang trái rồi rút kim, không lưu kim. Trị 30 ca đều đạt hiệu quả (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Lưu Trạch Quang (1985) chỉ châm huyệt Ngư tế một bên, mỗi ngày một lần, mũi kim hướng chếch lên trên sâu chừng 5 phân, lưu kim 20 – 30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. Trị 200 ca, đạt hiệu quả 98,5%, trong đó có 129 ca ổn định trên 2 năm không thấy tái phát (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Khúc Kính Lai (1990) châm thẳng huyệt Túc tam lý sâu 1- 2 thốn, lưu kim 20 phút, vê kim từ 2 – 4 lần. Trị 30 ca hen phế quản thể tỳ hư, đạt hiệu quả 90% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Trương Âu Quang (1981) châm các điểm quá mẫn được xác định bằng cách dùng ngón cái bàn tay phải ấn dò tìm ở tay, chân, ngực và lưng những vị trí có cảm giác đau, căng chướng hoặc tê bì. Nếu các điểm mẫn cảm quá nhiều có thể phân chia thành từng nhóm để luân phiên sử dụng. Thường châm với cường độ kích thích mạnh không lưu kim, 6 ngày là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 7 ngày. Trị 42 ca, đạt hiệu quả 69% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Triệu Tử Hiền (1987) dùng phương pháp dán các hạt Vương bất lưu hành lên các huyệt Giao cảm, Thần môn, Chẩm, Suyễn, Phế, Đại trường, Khí quản, Mũi trong, Thận ở tai. Mỗi ngày day ấn 3 – 4 lần, mỗi lần 5 – 10 phút. Trị 40 ca, đạt hiệu quả 98% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Uý Trì Tịnh (1987) dùng Bạch giới tử hoặc Vương bất lưu hành dán vào các huyệt Khí quản, Phế, Tuyến thượng thận, Tiền liệt tuyến ở cả hai tai, 5 ngày thay một lần, mỗi ngày day ấn 4 lần, mỗi lần ấn mỗi huyệt một phút. Trị 60 ca, đạt hiệu quả 95% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Trần Tất Thông (1995) cứu trực tiếp huyệt Thiếu thương, mỗi lần 3 – 5 tráng, mỗi ngày một lần, 10 lần là một liệu trình. Trị 37 ca đạt hiệu quả 73% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Trương Học Giám (1995) sử dụng hai huyệt Khổng tối và Ngư tế. Đầu tiên, dùng kim hào châm dài 1 thốn châm tẫ các huyệt cả 2 bên, sau đó cho điện châm với tần số 160 lần/phút, cường độ vừa phải, lưu kim 30 – 60 phút. Trị 192 ca đạt hiệu quả 98,9% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Mã Minh Phi (1992) châm các Suyễn điểm, Khái điểm ở bàn tay (thủ châm liệu pháp), lưu kim 30 phút, 5 – 10 phút vê kim một lần, mỗi ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình, giữa hai liệu trình nghỉ 1 tuần. Trị 100 ca, đạt hiệu quả 96% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

+ Quản Tuân Huệ (1987), thể phong nhiệt châm các huyệt Định suyễn, Phong môn xuyên Phế du. Thể phong hàn thêm Hợp cốc, Liệt khuyết. Thể đờm trệ thêm Túc tam lý, Phong long. Khó thở nhiều thêm Quan nguyên, Chiên trung. Ho nhiều thêm Xích trạch, Thái uyên. Dùng máy nhiệt châm GZH, đảm bảo độ ấm của kim từ 40 – 70oC. Các huyệt phối hợp châm thường, lưu kim 20 phút. Giai đoạn phát tác châm hàng ngày, mỗi ngày một lần, khi các triệu chứng đã giảm có thể châm cách ngày, 6 lần là một liệu trình, nghỉ 3 – 5 ngày rồi châm tiếp 1 liệu trình nữa. Trị 64 ca, đạt hiệu quả 96,9% (Châm Cứu Trị Liệu Bách Bệnh Oai Tuỵ).

One thought on “HÁO SUYỄN – HEN SUYỄN – ASTHMA

  1. Bài viết quá dài không càn thiết, Xin viết ngắn gon lại và chỉ cách nào để chửa trị hay nhầt và nhanh nhất cho cháu trai 8 tuổi.
    Thành thật cảm ơn…

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s