ĐẦU CHÂM KÍCH THÍCH VÙNG VẬN ĐỘNG TAY VÀ CHÂN TRÊN BỆNH NHÂN TBMMN DO NHỒI MÁU NÃO

Thanks GOD, father, mother, wife… và kiến thức của các bậc tiền bối☺️

Clip chỉ mang tính chất chia sẻ kiến thức và niềm tin vào hiệu quả của châm cứu trên một số bệnh thường gặp với đồng nghiệp và học trò, không mang tính quảng cáo. Thanks

Châm cứu kích thích vùng hoạt hóa vận động TAY ở da đầu tương ứng với vùng vỏ não vận động TAY ở hồi trước trung tâm (hồi trán lên) (BA4) bên dưới trên bệnh nhân TBMMN (nhồi máu não)

Continue reading “ĐẦU CHÂM KÍCH THÍCH VÙNG VẬN ĐỘNG TAY VÀ CHÂN TRÊN BỆNH NHÂN TBMMN DO NHỒI MÁU NÃO”

CÁC ĐIỂM KÍCH HOẠT TRÊN CƠ NÂNG VAI VÀ HUYỆT VỊ TƯƠNG ỨNG TRONG BỆNH LÝ ĐAU CỔ VAI

Đau cổ cấp hoặc dai dẳng kèm hạn chế vận động là do sự hoạt hóa các điểm kích hoạt (TrP) (còn gọi là điểm đau kích thích hay điểm gây đau) và bệnh lý này thường do nhiều cơ liên quan tại cùng thời điểm (đặc biệt khi có đau và hạn chế vận động cổ mức độ nặng). Đau thường xảy ra ở một bên cổ hoặc ở cả hai bên. Tuy nhiên, một trong các cơ liên quan nhiều nhất là cơ nâng vai. Cơ xoay khi nâng vai hoặc khi quay cổ sẽ làm tăng độ xoay và làm tăng đau dọc theo chiều dài của cơ.

Giải phẫu chức năng cơ nâng vai

Hình. Giải phẫu cơ nâng vai

  • Nguyên ủy: Các củ sau của các mỏm ngang C1-C4
  • Bám tận: Phần trên bờ trong của xương vai, từ góc trên xương vai đến gai vai.
  • Thần kinh: Ngành trước của C3-C4 và thần kinh vai lưng (C4, 5)
  • Chức năng: Nâng vai

Đầu tiên theo như tên gọi, cơ nâng vai có tác dụng nâng vai. Ngoài ra cơ còn giúp xoay cổ và nghiêng cổ sang bên. Khi cơ nâng hai ở cả hai bên cùng hoạt động, chúng giúp ngửa cổ ra sau và giữ cổ khi ta gập cổ.

Ngoài ra còn có các cơ đồng vận với động tác nâng vai như các cơ trám (cơ trám lớn, cơ trám bé), gập bên như cơ thang trên và các cơ bậc thang.

Mô tả lâm sàng

Đau cổ vai này rất phổ biến và hầu hết có thể bị theo nhiều mức độ từ nhẹ đến vừa và nặng nhất là cứng cổ không quay đầu được.

Bệnh nhân than phiền đau khi quay đầu và thường vuốt lên và vuốt xuống mặt bên cổ trong khi nói chuyện. Bệnh nhân thấy khó chịu và cũng nhăn mặt khi quay cổ để nhìn khi qua đường hoặc quay nhìn ra sau hoặc khi nâng vai và tay như động tác lấy tay móc túi hoặc nhặt gì đó trên sàn khi ngồi hoặc thở nông, không dám thở sâu do đau. Khi bị cứng cổ, đầu bệnh nhân thường nghiêng về phía bên đau và bệnh nhân cũng có thể than phiền là đau lan xuống dưới vai.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng đau này. Hầu hết thường cho là do nằm ngủ sai tư thế, ngủ nằm sấp với đầu quay sang bên hoặc ngủ kê gối cao. Tình trạng này cũng có thể xuất hiện do nghiêng/xoay đầu về một bên trong thời gian dài, như làm việc nhiều với máy vi tính với tư thế đầu bị xoay về một bên, hoặc kẹp giữ điện thoại bằng vai, hoặc khuân vác đồ hoặc đeo giỏ xách nặng một bên vai và đặc biệt khi nằm trên giường gập cổ hoặc nghiêng cổ xem ti vi. Đau cũng có thể xảy ra sau khi bơi, hoặc giai đoạn cấp của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc sau chấn thương.

Diện đau xuất chiếu đặc trưng

Đau do hoạt hóa điểm đau kích thích ở cơ nâng vai này được cảm nhận chủ yếu ở nền cổ, nhưng nó cũng có thể lan lên trên đến vùng chẩm hoặc lan ra ngoài đến mặt sau vai và lan xuống dưới dọc bờ trong xương vai.

Hình 1. Diện đau xuất chiếu đến cổ, vai và bờ trong của xương vai từ điểm kích thích đau (hình tam giác) trên cơ nâng vai. Điểm kích thích đau xuất hiện nằm ở góc cổ hoặc gần chỗ bám của cơ vào góc trên của xương vai hoặc cả hai.

Continue reading “CÁC ĐIỂM KÍCH HOẠT TRÊN CƠ NÂNG VAI VÀ HUYỆT VỊ TƯƠNG ỨNG TRONG BỆNH LÝ ĐAU CỔ VAI”

PHÂN TÍCH VỀ THẬN TINH, THẬN KHÍ, THẬN ÂM, THẬN DƯƠNG

PHÂN TÍCH VỀ THẬN TINH, THẬN KHÍ, THẬN ÂM, THẬN DƯƠNG.

(BS Đoàn Văn Minh Lược dịch từ báo 中国医药学)

闰志安

Thận tinh, Thận khí , Thận âm, Thận dương là khái niệm lý thuyết quan trọng trong học thuyết tạng tượng của YHCT. Dùng để mô tả các chức năng sinh lý và những thay đổi bệnh lý của tạng Thận, nó có ý nghĩa rất lớn trên lâm sàng . Hiện nay nhận thức của YHCT về ý nghĩa và mối liên hệ của Thận tinh, Thận khí, Thận âm, Thận dương vẫn còn tồn tại sự khác nhau, do đó cần phải phân tích, thảo luận và tìm hiểu thêm về vấn đề này.
Hiện nay, có rất nhiều luận điểm về bản chất của Thận tinh, Thận khí, Thận dương, Thận âm. Quy nạp lại bao gồm những điểm dưới đây:
1. Cho rằng Thận tinh tức là Thận âm, Thận âm bao gồm Thận tinh, thuộc về vật chất. Thận khí tức là Thận dương, Thận dương bao gồm Thận khí, thuộc về chức năng. Luận điểm này khá phổ biến, căn cứ của lập luận này là: lấy Tinh và Khí để phân âm dương, tức là tinh là âm, khí là dương; lấy vật chất và chức năng để phân âm dương tức là vật chất là âm, công năng là dương. Theo đó cho thấy Thận tinh tức là Thận âm, Thận âm đại diện cho thành phần vật chất của Thận, Thận khí tức là Thận dương, Thận dương đại diện cho công năng của Thận. Thành ra âm dương dùng để mô tả, giải thích các sự vật, giữa tinh và khí, vật chất và chức năng, thậm chí vật chất với vật chất, công năng với công năng, đều có thể dùng âm dương để phân biệt. Tuy nhiên, dùng âm dương để phân tích thuộc tính của sự vật thì không phải lúc nào thuộc tính âm dương tương đồng đều là thống nhất một sự vật. Từ thực tiễn lâm sàng cho thấy, Thận tinh hư không hẳn là Thận âm hư, Thận khí hư cũng không hẳn là Thận dương hư. Như vậy, chỉ dùng vật chất và công năng để phân biệt Thận tinh, Thận khí, Thận âm, Thận dương thì vẫn còn mang tính phiến diện rất lớn.
2. Cho rằng Thận tinh, Thận khí, Thận dương, Thận âm cùng tồn tại trong Thận và không cùng một dạng vật chất cũng như có các đặc điểm công năng khác nhau. Quan điểm này được chấp nhận ở chỗ đã nhận thức được vật chất và công năng. Tuy nhiên mối liên hệ giữa bốn yếu tố này vẫn còn thiếu sót và cần thiết phải làm rõ.
3. Lấy Thận tinh là vật chất cơ bản của Thận, trong đó phân ra Thận dương và Thận âm, là hai trạng thái biểu hiện công năng, và Thận khí là trạng thái cân bằng của Thận âm và Thận dương. Quan điểm này tuy làm rõ 3 loại Thận tinh, Thận âm và Thận dương, nhưng đối với Thận khí và mối quan hệ giữa 3 yếu tố vẫn còn nhiều mơ hồ.
4. Lấy Thận tinh, Thận khí làm vật chất cơ bản, và Thận âm Thận dương là biểu hiện công năng của nó. Quan điểm này có vẻ hợp lý, tuy nhiên dường như vẫn còn chung chung và máy móc.

Continue reading “PHÂN TÍCH VỀ THẬN TINH, THẬN KHÍ, THẬN ÂM, THẬN DƯƠNG”

HUYỆT VỊ CHÂM CỨU ĐIỀU TRỊ CHỨNG THẤT NGÔN DO NHỒI MÁU NÃO

Lược dịch và hiệu đính Đoàn Vũ Xuân Phúc

Nghiên cứu cộng hưởng từ chức năng (fMRI) về hiệu quả đối với các vùng ngôn ngữ bình thường khi châm các huyệt Thông lý (HT 5) và Huyền chung (GB39).

Article first published online: September 4, 2017
Received: April 24, 2017; Accepted: June 21, 2017

https://doi.org/10.1177/0300060517720344

1212312

1School of Medicine, Shandong University, Jinan, Shandong Province, China
2Department of Radiology, Taian City Central Hospital, Taian, Shandong Province, China
3Department of Radiology, Huashan Hospital, Fudan University, Shanghai, China

Link

http://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/0300060517720344?url_ver=Z39.88-2003&rfr_id=ori%3Arid%3Acrossref.org&rfr_dat=cr_pub%3Dpubmed&

 

Tóm tắt

Mục đích

Phân tích fMRI (cộng hưởng từ chức năng) về hiệu quả của việc châm huyệt Thông lý (HT 5) và châm các huyệt Thông lý (HT 5) – Huyền chung (GB 39) đối với các vùng ngôn ngữ bình thường với mục đích cung cấp nền tảng học thuyết cho việc vận dụng châm cứu điều trị các bệnh nhân bị thất ngôn.

Phương pháp

Nghiên cứu này được tiến hành trên những đối tượng tình nguyện khỏe mạnh. Các huyệt sau đây được kích thích: Thông lý (HT 5) bên phải, Thông lý (HT 5) -Huyền chung (GB 39) bên phải, giả huyệt Thông lý bên phải, Thông lý (HT 5) bên trái và Thông lý (HT 5) – Huyền chung (GB 39) bên trái. Kích thích châm cứu được tiến hành trong khi thực hiện chụp fMRI não.

Kết quả

Nghiên cứu gồm 10 tình nguyện viêm khỏe mạnh (5 nam) (độ tuổi trung bình 44.5+/- 2.5 tuổi; dao động từ 40-55 tuổi). Dựa trên phân tích thống kê, chỉ duy nhất châm huyệt Thông lý (HT 5) bên phải cho kết quả hoạt hóa nhiều vùng ở hai bán cầu não liên quan mật thiết với các vùng ngôn ngữ. Việc kích thích huyệt Thông lý (HT 5) bên phải có chỉ số cùng bên là 0,0952; với các thể tích điểm ảnh (voxel) được hoạt hóa ở các vùng liên quan ngôn ngữ  bên trái lớn hơn so với các vùng này bên phải.

Kết luận

Châm huyệt Thông lý (HT 5) bên phải gây hoạt hóa nhiều vùng liên quan ngôn ngữ ở hai bán cầu não. Vì vậy huyệt này có thể hữu hiệu đối với châm cứu điều trị thất ngôn do nhồi máu não.

 

GIỚI THIỆU

Đông y quan niệm cơ thể con người là một chỉnh thể thống nhất với các kinh lạc và huyệt, các kinh mạch và lạc mạch liên kết các tạng phủ bên trong với nhau. Châm cứu là một phần quan trọng của Đông y và hiệu quả điều trị bằng châm cứu cũng như xoa bóp đã được công nhận trong cộng đồng y học khắp thế giới.1-3

Nghiên cứu sử dụng BOLD-fMRI (MRI chức năng lệ thuộc mức oxy máu) đã xác nhận rằng châm kim vào các huyệt vị có thể điều chỉnh hoạt động thần kinh ở mức vỏ não và dưới vỏ.4-6 Châm kim vào các huyệt liên quan đến ngôn ngữ có thể điều chỉnh mạng lưới ngôn ngữ bình thường.7

Đột quỵ não là nguyên nhân thường gặp nhất gây chứng thất ngôn.8

Trong điều trị thất ngôn, có vài huyệt có thể được chọn lựa nhưng không có tiêu chuẩn thống nhất. Châm kim tại các huyệt Thông lý (HT 5) và Huyền chung (GB 39) thường được dùng để điều trị thất ngôn mặc dù cơ chế hoạt động vẫn chưa biết rõ.

Chưa có báo cáo nào mô tả hoặc là châm đơn huyệt hoặc hoặc châm một cặp huyệt (trái hoặc phải) có thể hoạt hóa các vùng liên quan ngôn ngữ của não bộ. Vì vậy nghiên cứu này điều tra hiệu quả của việc châm huyệt Thông lý (HT 5) và hai huyệt Thông lý (HT 5)-Huyền chung (GB 39) trái và phải ở các tình nguyện viên khỏe mạnh sử dụng BOLD-fMRI để so sánh tình trạng hoạt hóa các vùng não bộ khác nhau khi châm trên các đường kinh khác nhau.

Continue reading “HUYỆT VỊ CHÂM CỨU ĐIỀU TRỊ CHỨNG THẤT NGÔN DO NHỒI MÁU NÃO”

GIẢI PHẪU THẦN KINH TỌA

Nguồn:

Giải phẫu người (sách dùng cho sinh viên hệ bác sĩ đa khoa)

Bộ môn Giải phẫu

Trường Đại Học Y Hà Nội

Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2006: trang 147-151

 

Hình ảnh: Edit từ Frank H. Netter. Atlas of Human Anatomy 6th. Elsevier, 2014

1. Cấu tạo

Thần kinh tọa còn gọi là thần kinh ngồi hay thần kinh hông to được tạo nên bởi đám rối cùng (sacral plexus). Đám rối cùng được tạo nên bởi

(1) thân thắt-lưng cùng,

(2) nhánh trước của ba thần kinh sống cùng đầu tiên (S1, S2, S3) và

(3) một phần nhánh trước của thần kinh sống cùng IV.

Thân thắt lưng-cùng do một phần nhánh trước thần kinh thắt lưng IV (L4) và toàn bộ nhánh trước thần kinh thắt lưng V (L5). Nó hiện ra ở bờ trong cơ thắt lưng, đi vào chậu hông bé ở trước khớp cùng-chậu và cùng với các thần kinh cùng I-III (S1, S2, S3) tạo nên thần kinh ngồi.

Thần kinh ngồi bao gồm các thần kinh chày và mác chung, vốn là những thần kinh thường chỉ tách rời nhau ở đỉnh hố khoeo nhưng có thể lần theo chúng đến tận nguyên ủy để thấy rằng thần kinh chày được tạo nên bởi các sợi trước của thân thắt lưng-cùng và ba thần kinh cùng đầu tiên, thần kinh mác chung được tạo nên bởi các sợi sau của thân thắt lưng-cùng và hai thần kinh cùng đầu tiên. Các thần kinh chày và mác chung có thể tách rời nhau sớm hơn ở bất kì đâu và nếu tách rời nhau ngay tại đám rối thì thần kinh mác chung thường xuyên qua cơ hình lê.

Nguyên uỷ

·         Thần kinh chày: các sợi trước – nhánh trước của L4 – L5 – S1 – S2 – S3

·         Thần kinh mác chung: các sợi sau – nhánh trước của L4 – L5 – S1 – S2

Continue reading “GIẢI PHẪU THẦN KINH TỌA”

LIỆT MẶT _ Nguyên lý nội khoa Harrison _ Tái bản lần thứ 19 _ 2016

Biên dịch và hiệu đính
Dr. Đoàn Vũ Xuân Phúc
Dr. Đoàn Vũ Xuân Lộc
Dr. Nguyễn Thanh Nhung
Dr. Hồ Xuân Dũng

YẾU CƠ MẶT

SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU

(Hình 455-2) Thần kinh sọ não số VII phân bố cho tất cả các cơ liên quan đến biểu hiện nét mặt. Phần cảm giác thì nhỏ (thần kinh trung gian); nhận cảm giác vị giác ở 2/3 trước lưỡi và các xung động da ở thành trước của ống tai ngoài. Nhân vận động của thần kinh số VII nằm phía trước và phía ngoài nhân thần kinh vận nhãn ngoài (VI). Sau khi rời khỏi cầu não, dây thần kinh số VII vào lỗ tai trong vùng với dây thần kinh thính giác. Dây thần kinh số VII tiếp tục đường đi trong kênh xương, ống thần kinh mặt, và ra ngoài sọ qua lỗ trâm chũm. Sau đó dây thần kinh đi qua tuyến mang tai và phân các nhánh phân bố cho các cơ mặt.

Đứt hoàn toàn thần kinh mặt ở lỗ trâm chũm gây liệt toàn bộ các cơ biểu hiện nét mặt. Góc miệng trễ xuống, các nếp lằn và nếp nhăn da bị mờ, trán không có nếp nhăn và mi mắt không nhắm lại được. Lúc gắng nhắm mi, mắt bên liệt di chuyển lên trên (dấu Bell). Mi dưới chùng xuống và sa khỏi kết mạc làm nước mắt tràn ra má. Thức ăn dồn đọng giữa răng và môi, nước bọt có thể chảy ra góc miệng. Bệnh nhân than phiền thấy nặng hoặc tê ở mặt, nhưng ít khi mất cảm giác và vị giác không thay đổi.

Nếu tổn thương ở phần tai giữa sẽ có mất vị giác ở 2/3 trước lưỡi cùng bên. Nếu dây thần kinh đến cơ bàn đạp bị gián đoạn thì có chứng tăng nhạy cảm với âm thanh (nhạy cảm với âm thanh lớn). Tổn thương ở ống tai trong có thể ảnh hưởng đến thần kinh tiền đình ốc tai bên cạnh, gây điếc tai, ù tai hoặc chóng mặt. Tổn thương trong cầu não gây liệt mặt thường ảnh hưởng đến nhân thần kinh vận nhãn ngoài (VI), cũng như ảnh hưởng đến các bó vỏ gai và bó cảm giác.

Nếu liệt mặt ngoại vi kéo dài một thời gian và sự phục hồi chức năng vận động không hoàn toàn, thì có thể xuất hiện tình trạng co kéo lan tỏa liên tục các cơ mặt. Khe mi mắt bị hẹp lại và rãnh mũi môi trở nên sâu hơn. Gắng vận động một nhóm các cơ mặt có thể dẫn đến tình trạng co kéo tất cả các cơ (những vận động kèm theo hoặc chứng đồng động). Co thắt cơ mặt, khởi phát bởi sự vận động mặt có thể tiến triển (chứng co kéo nửa mặt). Sự phục hồi bất thường các sợi thần kinh của dây VII có thể dẫn đến các hiện tượng khó chịu khác. Nếu các sợi nguyên phát liên kết với cơ vòng ổ mắt đến phân bố cho các cơ vòng miệng, thì khi nhắm mắt có thể gây ra co kéo miệng, hoặc nếu các sợi nguyên phát liên kết với các cơ mặt phân bố lại cho tuyến lệ, thì sự tiết nước mắt bất thường (“nước mắt cá sấu”) có thể xuất hiện khi có bất kỳ hoạt động nào của cơ mặt như khi ăn. Các chứng đồng động của cơ mặt khác được kích hoạt khi há hàm gây nhắm mi mắt bên mặt bị liệt (chứng hàm-nháy mắt).

Hình 455-2 Thần kinh mặt. A, B, và C biểu thị các tổn thương thần kinh mặt tương ứng ở lỗ trâm chũm, đoạn xa và đoạn gần hạch gối. Đường màu xanh biểu thị các sợi phó giao cảm, đường màu đỏ biểu thị các sợi vận động và đường màu tím biểu thị các sợi hướng tâm cảm giác (vị giác). (Trích từ MB Carpenter: Core Text  of Neuroanatomy, 2nd ed. Williams & Wilkins, 1978.)

Continue reading “LIỆT MẶT _ Nguyên lý nội khoa Harrison _ Tái bản lần thứ 19 _ 2016”

ÂM KHÍCH (HE-6) _ LUẬN VỀ HUYỆT ÂM KHÍCH

ÂM KHÍCH HE-6

YĪNXÌ / YIN CLEFT

Biên dịch và hiệu đính
Dr. Đoàn Vũ Xuân Phúc

Huyệt Khích của kinh Tâm

VỊ TRÍ

Ở bờ quay gân cơ gấp cổ tay trụ, cách Thần môn HE-7 phía trên (phía đầu gần) 0,5 thốn.

Claudia Focks (2008). Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone
Claudia Focks (2008). Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone

CÁCH CHÂM

Châm thẳng sâu 0,3-0,5 thốn hoặc châm chếch về phía đầu gần hoặc đầu xa 0,5-1 thốn.

CÔNG NĂNG

  • Điều hòa Tâm huyết
  • An thần
  • Chỉ thống
  • Thanh hư nhiệt, chỉ hãn

Continue reading “ÂM KHÍCH (HE-6) _ LUẬN VỀ HUYỆT ÂM KHÍCH”

CÁC HUYỆT VÙNG ĐẦU LIÊN QUAN ĐẾN 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI (đang update)

5 huyệt: Tứ thần thông Ex-HN-1, Bách hội DU-20, Hàm yến G.B.-4, Huyền ly G.B.-6, Khúc tân G.B.-7

ĐƯỜNG MS6: Đường chéo đỉnh-thái dương trước – Từ huyệt Tứ thần thông Ex-HN-1 đến huyệt Huyền ly G.B.-6

TỨ THẦN THÔNG (EX-HN-1)

VỊ TRÍ

Bốn huyệt ở đỉnh đầu, nhóm huyệt này nằm xung quanh huyệt Bách hội DU-20, cách huyệt Bách hội DU-20 phía trước, phía sau và hai bên 1 thốn.1,3,5,6,7

CÁCH XÁC ĐỊNH

  • Đầu tiên, xác định huyệt Bách hội DU-20 nằm ở điểm cao nhất trên đầu, chỗ nối hai đỉnh tai và đường dọc giữa đầu. Phương pháp xác định khác: Lấy huyệt Bách hội DU-20 nằm cách chân tóc trước 5 thốn và chân tóc sau 7 thốn. Huyệt Tứ thần thông EX-HN-1 hình thành một nhóm các huyệt xung quanh Bách hội DU-20 có hình ngôi sao: hai huyệt nằm cách mạch Đốc mỗi bên 1 thốn, hai huyệt còn lại nằm cách Bách hội DU-20 phía trước và phía sau 1 thốn.5
  • Nếu chân tóc trước khó xác định thì lấy khoảng cách giữa Bách hội DU-20 và điểm chính giữa hai lông mày là 8 thốn.6

CÁCH CHÂM

Châm ngang, sâu 0,5-1 thốn, hướng đến huyệt Bách hội DU-20.5

Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.
Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.

HUYỀN LY (G.B.-6)

VỊ TRÍ

Ở vùng thái dương, trong chân tóc, chỗ nối ¼ dưới và ¾ trên của đường nối từ huyệt Đầu duy ST8 đến huyệt Khúc tân G.B.-7,5,6 giữa huyệt Huyền lư G.B.-5 và huyệt Khúc tân G.B.-77,8.

CÁCH XÁC ĐỊNH

Đầu tiên, xác định hai huyệt tham chiếu: Huyệt Đầu duy ST-8 (cách đường giữa đầu 4,5 thốn và trong chân tóc trước 0,5 thốn, ở góc trán) và huyệt Khúc tân G.B.-7 (chỗ lõm ngang đỉnh tai, trong chân tóc thái xương quanh tai). Sau đó chia đoạn hơi cong giữa hai huyệt này này thành 4 phần, huyệt Huyền ly G.B.-6 nằm ở chỗ nối ¾ trên với ¼ dưới của đoạn này.5

CÁCH CHÂM

Châm ngang (dưới da), sâu 0,3-1,5 thốn theo hướng xương chẩm hoặc hướng đến vùng đau hoặc vùng bệnh.5

Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.
Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.

Chú thích: Circumauricular hairline: Chân tóc quanh tai; ST-8: Huyệt Đầu duy; G.B.-7: Huyệt Khúc tân

Continue reading “CÁC HUYỆT VÙNG ĐẦU LIÊN QUAN ĐẾN 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI (đang update)”