CÁC HUYỆT VÙNG ĐẦU LIÊN QUAN ĐẾN 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI (đang update)

5 huyệt: Tứ thần thông Ex-HN-1, Bách hội DU-20, Hàm yến G.B.-4, Huyền ly G.B.-6, Khúc tân G.B.-7

ĐƯỜNG MS6: Đường chéo đỉnh-thái dương trước – Từ huyệt Tứ thần thông Ex-HN-1 đến huyệt Huyền ly G.B.-6

TỨ THẦN THÔNG (EX-HN-1)

VỊ TRÍ

Bốn huyệt ở đỉnh đầu, nhóm huyệt này nằm xung quanh huyệt Bách hội DU-20, cách huyệt Bách hội DU-20 phía trước, phía sau và hai bên 1 thốn.1,3,5,6,7

CÁCH XÁC ĐỊNH

  • Đầu tiên, xác định huyệt Bách hội DU-20 nằm ở điểm cao nhất trên đầu, chỗ nối hai đỉnh tai và đường dọc giữa đầu. Phương pháp xác định khác: Lấy huyệt Bách hội DU-20 nằm cách chân tóc trước 5 thốn và chân tóc sau 7 thốn. Huyệt Tứ thần thông EX-HN-1 hình thành một nhóm các huyệt xung quanh Bách hội DU-20 có hình ngôi sao: hai huyệt nằm cách mạch Đốc mỗi bên 1 thốn, hai huyệt còn lại nằm cách Bách hội DU-20 phía trước và phía sau 1 thốn.5
  • Nếu chân tóc trước khó xác định thì lấy khoảng cách giữa Bách hội DU-20 và điểm chính giữa hai lông mày là 8 thốn.6

CÁCH CHÂM

Châm ngang, sâu 0,5-1 thốn, hướng đến huyệt Bách hội DU-20.5

Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.
Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.

HUYỀN LY (G.B.-6)

VỊ TRÍ

Ở vùng thái dương, trong chân tóc, chỗ nối ¼ dưới và ¾ trên của đường nối từ huyệt Đầu duy ST8 đến huyệt Khúc tân G.B.-7,5,6 giữa huyệt Huyền lư G.B.-5 và huyệt Khúc tân G.B.-77,8.

CÁCH XÁC ĐỊNH

Đầu tiên, xác định hai huyệt tham chiếu: Huyệt Đầu duy ST-8 (cách đường giữa đầu 4,5 thốn và trong chân tóc trước 0,5 thốn, ở góc trán) và huyệt Khúc tân G.B.-7 (chỗ lõm ngang đỉnh tai, trong chân tóc thái xương quanh tai). Sau đó chia đoạn hơi cong giữa hai huyệt này này thành 4 phần, huyệt Huyền ly G.B.-6 nằm ở chỗ nối ¾ trên với ¼ dưới của đoạn này.5

CÁCH CHÂM

Châm ngang (dưới da), sâu 0,3-1,5 thốn theo hướng xương chẩm hoặc hướng đến vùng đau hoặc vùng bệnh.5

Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.
Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.

Chú thích: Circumauricular hairline: Chân tóc quanh tai; ST-8: Huyệt Đầu duy; G.B.-7: Huyệt Khúc tân

Continue reading “CÁC HUYỆT VÙNG ĐẦU LIÊN QUAN ĐẾN 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI (đang update)”

ỨNG DỤNG ĐẦU CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT

From https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3833481/

Biên dịch và hiệu đính MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc

LIỆT BELL

Liệt Bell là tình trạng liệt và yếu các cơ chi phối biểu hiện nét mặt ở một nữa mặt. Nguyên nhân do thương tổn hoặc chấn thương một phần của dây thần kinh mặt (thần kinh sọ não VII) chi phối các cơ ở mặt. Các triệu chứng của liệt Bell thường xuất hiện đột ngột và đạt đến đỉnh điểm trong vòng 48 giờ. Mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng dao động từ yếu nhẹ đến liệt toàn bộ nữa mặt, và liệt Bell thường gây mất cân xứng khuôn mặt một cách rõ rệt. Hiện nay, hầu hết các  trường hợp liệt Bell đều không rõ nguyên nhân. Phần lớn các nhà khoa học cho nguyên nhân gây ra bệnh lý này là do nhiễm virut và dây thần kinh mặt bị sưng và bị viêm do phản ứng nhiễm khuẩn.

Các dấu hiệu và triệu chứng của liệt Bell bao gồm tình trạng khởi phát đột ngột với yếu hoặc liệt nữa mặt gây khó khăn khi cười hoặc nhắm mắt ở bên bệnh, khóe miệng bị lệch và xệ xuống gây khó khăn khi biểu cảm nét mặt. Các triệu chứng khác bao gồm đau phía sau hoặc phía trước tai ở bên bệnh, âm thanh dường như nghe lớn hơn ở tai bên bệnh, và những thay đổi về lượng bài tiết nước mắt và nước bọt. Trẻ em khi sinh ra có thể bị liệt mặt và cũng có các triệu chứng liệt Bell tương tự như người lớn. Thường là do chấn thương khi sinh làm tổn thương khó hồi phục dây thần kinh mặt dẫn đến liệt thần kinh mặt cấp tính.

Những bệnh nhân bị liệt mặt do các nguyên nhân tiềm ẩn có thể xác định thì không xem là liệt Bell. Những nguyên nhân tiềm ẩn đó bao gồm u, đột quỵ, tiểu đường, viêm màng não, chấn thương đầu và các bệnh lý viêm nhiễm các dây thần kinh sọ não. Tuy nhiên, trong những trường hợp này, những dấu hiện thần kinh hiếm khi chỉ giới hạn ở dây thần kinh mặt. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu đối với liệt Bell, mặc dù ba trong bốn các triệu chứng của người bệnh có thể tự giảm bớt trong vòng hai đến ba tuần. Những trường hợp khác có thể để lại di chứng với nhiều mức độ và một số bệnh nhân bị thương tổn vĩnh viễn.

Các biến chứng chính của liệt Bell bao gồm mất vị giác mãn tính (ageusia), co thắt cơ mặt mãn tính, và nhiễm trùng giác mạc. Để điều trị tình trạng mất vị giác, nên kích thích vị trí 2/5 dưới của vùng Cảm giác trong Đầu châm. Không nên sử dụng điện châm trên mặt vì nó có thể gây co kéo cơ mặt. Để điều trị tình trạng co kéo cơ mặt, nên kích thích vùng Múa giật-Run và vị trí 2/5 dưới của vùng Vận động. Để ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng giác mạc, nên bảo vệ mắt bằng cách che hoặc băng mắt trong khi ngủ và khi nghỉ ngơi. Có thể nhỏ nước mắt nhân tạo hoặc các loại dầu dùng cho mắt, đặc biệt trong những trường hợp liệt hoàn toàn.

Liệt mặt, theo Trung y, liên quan đến tình trạng khí huyết mất điều hòa không nuôi dưỡng đầy đủ các đường kinh tuần hoàn trên mặt, cũng như do sự xâm nhập của tà khí phong hàn và phong thấp.

BỆNH SỬ #8

Bệnh nhân nam Jimmy, 52 tuổi, đến phòng khám của chúng tôi ở Santa Fe, NM, vào năm 2000. Bệnh nhân đã được chẩn đoán liệt Bell trước đó 2 tuần do nhiễm lạnh. Bệnh nhân bị đau mức độ trung bình dọc theo đường quai hàm và phía sau tai trái. Bệnh nhân không thể nhắm được mắt trái, nâng mày trái, nhe răng, cau mày hoặc chu cằm bên trái. Khóe miệng bên bệnh bị xệ xuống và miệng lệch sang phải, và rõ nét hơn khi cười. Do vậy bệnh nhân rất bực bội, giận dữ và sợ rằng khuôn mặt của anh ta sẽ không trở lại như bình thường được. Lưỡi bệnh nhân đỏ, rêu lưỡi vàng, mỏng. Mạch phù hoạt.

Chẩn đoán theo Trung y: Thấp nhiệt gây tắc nghẽn kinh mạch và lạc mạch.

ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐẦU CHÂM

Vùng điều trị

Vùng chính: 2/5 dưới của vùng Vận động

Vùng phụ: 2/5 dưới của vùng Cảm giác

dau-cham-tri-liet-mat

Continue reading “ỨNG DỤNG ĐẦU CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT”

CÁC CƠ BIỂU HIỆN NÉT MẶT (Muscles of facial expression)

GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG SINH LÝ CÁC CƠ BIỂU HIỆN NÉT MẶT

Tài liệu tham khảo
  1. Agur, Anne M.R., Dalley, Arthur F. Grant’s Atlas of Anatomy, 12th Edition. Chapter 7.14 Muscles of facial expression. Lippincott Williams & Wilkins, 2009: 629-630
  2. Frank H. Netter. Atlas of Human Anatomy, 6th Edition. Muscle Tables 1-1 – 1-6. Saunders, 2014
  3. Richard L. Drake, A. Wayne Vogl, Adam W. M. Mitchell, Richard M. Tibbitts, Paul E. Richardson. Gray’s Atlas of Anatomy2nd Edition. Churchill Livingstone, 2015: 488, 504, 505, 590-593
Biên dịch và hiệu đính MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc
(CLICK VÀO ĐỂ XEM ẢNH GỐC VỚI ĐỘ PHÂN GIẢI CAO)
Các biểu hiện nét mặt Agur, Anne M.R., Dalley, Arthur F. Grant's Atlas of Anatomy, 12th Edition. Chapter 7.14 Muscles of facial expression. Lippincott Williams & Wilkins, 2009: 629-630
Các biểu hiện nét mặt

Continue reading “CÁC CƠ BIỂU HIỆN NÉT MẶT (Muscles of facial expression)”

GIẢI PHẪU DÂY THẦN KINH MẶT (THẦN KINH SỌ NÃO VII)

Theo Snell, Richard S. Clinical Neuroanatomy, 7th Edition. Chapter 11 The Cranial Nerve Nuclei and Their Central Connections and Distribution. Lippincott Williams & Wilkins, 2010: 346-348

Biên dịch và hiệu đính MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc

THẦN KINH MẶT

(THẦN KINH SỌ NÃO VII)

Thần kinh mặt là thần kinh cảm giác và vận động.

Các nhân thần kinh mặt

Thần kinh mặt có ba nhân: (1) nhân vận động chính, (2) các nhân đối giao cảm, và (3) nhân cảm giác.

Nhân vận động chính

Nhân vận động chính nằm sâu trong cấu tạo lưới của phần dưới cầu não (Hình 11-11). Phần nhân phân bố cho các cơ ở phần trên của mặt nhận các sợi vỏ nhân từ cả hai bán cầu não. Phần nhân phân bố cho các cơ ở phần dưới của mặt chỉ nhận các sợi vỏ nhân từ bán cầu não đối bên.

Những đường này giải thích sự chi phối chủ động các cơ mặt. Tuy nhiên, có những đường tự động khác, tách riêng và chi phối biểu hiện nét mặt đối với những thay đổi về mặt cảm xúc hoặc những thay đổi do bắt chước. Những đường này hình thành nên các phần của cấu tạo lưới (xem trang 307).

Các nhân đối giao cảm

Các nhân đối giao cảm nằm phía sau-ngoài nhân vận động chính. Bao gồm nhân bọt trên nhân lệ (Hình 11-11). Nhân bọt trên nhận các sợi hướng tâm từ hạ đồi qua đường tự chủ đi xuống. Nhân bó đơn độc cũng nhận tín hiệu liên quan đến cảm giác từ khoang miệng.

Nhân lệ nhận các sợi hướng tâm từ hạ đồi với các đáp ứng xúc cảm và từ các nhân cảm giác của thần kinh sinh ba với phản xạ tiết nước mắt thứ phát khi có kích thích giác mạc hoặc kết mạc.

Nhân cảm giác

Nhân cảm giác là phần trên của nhân bó đơn độc và nằm gần nhân vận động (Hình 11-11). Các cảm giác vị giác đi qua sợi trục của các tế bào thần kinh ngoại vi nằm ở hạch gối trên dây thần kinh sọ não VII. Trung tâm xử lý của các tế bào này nằm ở tế bào thần kinh trong nhân. Các sợi hướng tâm đi ngang qua mặt phẳng giữa rồi đi lên đến nhân bụng sau trong của đồi thị đối bên và một số nhân ở vùng hạ đồi. Từ đồi thị, các sợi trục của các tế bào vùng đồi thị qua bao trong và vành tia đến tận cùng ở vùng nhận cảm vị giác của vỏ não ở phần dưới của hồi sau trung tâm (Hình 11-11).

Hình 11-11 Các nhân thần kinh mặt và các tiếp nối trung ương của thần kinh mặt
Hình 11-11 Các nhân thần kinh mặt và các tiếp nối trung ương của thần kinh mặt

Continue reading “GIẢI PHẪU DÂY THẦN KINH MẶT (THẦN KINH SỌ NÃO VII)”

LUẬN VỀ HUYỆT THÁI XUNG (LIV-3)

THÁI XUNG (LIV-3)

TÀI CHŌNG大冲 / GREAT RUSHING

Thái xung LIV-3 là huyệt quan trọng nhất của kinh Can, có phạm vi hoạt động rộng lớn, có thể sử dụng để quân bình cả hai bệnh cảnh thái quá và bất túc của tạng Can và kinh Can. Chính vì tầm quan trọng đó nên danh y Từ Phong đời Minh đã xếp Thái xung LIV-3 vào “Mã Đơn Dương Thiên Tinh Thập Nhất Huyệt” (11 huyệt) trong tác phẩm “Châm Cứu Đại Toàn” của ông. Từ lúc đó, những huyệt này được biết đến là “Mã Đơn Dương Thiên Tinh Thập Nhị Huyệt” (12 huyệt).

Tổng hợp, biên dịch và hiệu đính

MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc
MD. Dương Trọng Lập

TÊN HUYỆT

“Thái” hàm nghĩa ‘to, lớn’.

“Xung” hàm nghĩa ‘mạnh mẽ, hăng hái, xiết, vọt lên’.

Huyệt là nơi nguyên khí cư ngụ, khí huyết đại thịnh là yếu đạo để khí thông hành, vì vậy gọi là Thái Xung (Trung Y Cương Mục).

ĐẶC ĐIỂM

Nguyên huyệt, huyệt Du (thuộc Thổ) của kinh Túc Quyết âm Can.

Thuộc nhóm Mã Đơn Dương Thiên Tinh Thập Nhị Huyệt.

VỊ TRÍ

Trên mu bàn chân, giữa xương đốt bàn chân 1 và 2,4,5,8 chỗ lõm phía trước chỗ nối hai đầu sau của xương đốt bàn chân 1 và 2,1,5,6,7 ngang chỗ nối thân với đầu sau xương đốt bàn chân 11,4

Thái xung 1

CÁCH XÁC ĐỊNH

Từ kẽ ngón chân 1 và 2, sờ dọc theo rãnh giữa hai xương đốt bàn chân 1 và 2 trên mu bàn chân, đi lên đến chỗ lõm trước chỗ gặp nhau của hai đầu sau xương đốt bàn chân 1-2,1,5,6,7 (chỗ lõm trước góc tạo bởi hai đầu sau của hai xương đốt bàn chân 1-2)1,5. Huyệt nằm trong chỗ lõm này, cách kẽ ngón chân 1-2 phía trên 2 thốn,2 hoặc cách đỉnh kẽ ngón chân 1-2 (huyệt Hành gian LIV-2) phía trên 1,5 thốn1,3.

Thái xung 4

Continue reading “LUẬN VỀ HUYỆT THÁI XUNG (LIV-3)”

LỊCH SỬ ĐẦU CHÂM VÀ DANH PHÁP 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO HIỆP HỘI KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI

Biên dịch và hiệu đính
MD. Đoàn Vũ Xuân Phúc, MD. Dương Trọng Lập, BA. Phan Thị Thanh Phương

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐẦU CHÂM

Liệu pháp Đầu châm đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm. Các y gia thời xưa đã biết được tầm quan trọng của các huyệt ở da đầu trong trị liệu, tuy nhiên Đầu châm phát triển rất nhanh chỉ trong vài thập kỷ gần đây. Lịch sử phát triển Đầu châm được tóm tắt trong bảng 1.

Bảng 1: Lịch sử phát triển Đầu châm

Năm Tác giả và/hoặc nghiên cứu Đóng góp
5 BC Tiểu sử Biển Thước Ghi chép y học sớm nhất về ứng dụng liệu pháp Đầu châm ở Trung Quốc.
221 BC–220 AD Hoàng Đế Nội Kinh Thiết lập cơ bản học thuyết Y học cổ truyền Trung Quốc về liệu pháp Đầu châm.
220 AD–1950 AD Có nhiều báo cáo ghi nhận về liệu pháp đầu châm trong nhiều sách y học. Liệu pháp đầu châm phát triển qua các thế hệ khác nhau, nhưng vẫn phụ thuộc vào hệ thống châm cứu truyền thống
1950’s Đầu châm trở thành một phần của hệ thống vi châm. Đầu châm bắt đầu hình thành một hệ thống độc lập.
1970’s Liệu pháp Đầu châm của Tiêu Thuận Phát (Jiao Shunfa), liệu pháp Đầu châm của Phương Vân Bằng (Fang Yunpeng), liệu pháp Đầu châm của Chu Long Ngọc (Zhu Longyu), and liệu pháp Đầu châm của Chu Minh Thanh (Zhu Minqing), liệu pháp Tân Đầu châm của Yamamoto và các cộng sự. Liệu pháp đầu châm phát triển nhanh và hình thành những hệ thống danh pháp huyệt vị da đầu khác nhau.
1980’s–1990’s Hiệp hội khoa học của WHO về Danh pháp châm cứu quốc tế Các đường châm cứu da đầu chuẩn hóa quốc tế được chứng nhận bởi hiệp hội khoa học của WHO.

Continue reading “LỊCH SỬ ĐẦU CHÂM VÀ DANH PHÁP 14 ĐƯỜNG CHÂM CỨU DA ĐẦU CHUẨN HÓA THEO HIỆP HỘI KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI”

CÁC HUYỆT TRÊN KINH TÚC THÁI ÂM TỲ

  1. TAM ÂM GIAO (SP-6)
Đặc điểm : Huyệt hội của 3 kinh âm ở chân (Can, Tỳ, Thận).Một trong “Lục tổng huyệt” chủ trị bệnh lý vùng bụng dưới [3].
Vị trí         : Cách lồi cao nhất mắt cá chân trong phía trên 3 thốn[1][4][5][6][7], sát bờ sau-trong xương chày[1][5][6][7], (có sách nói là cách bờ sau xương chày 1 khoát ngón tay[2][3][4]).
Chủ trị           :
  • Đau cổ chân, cẳng chân, yếu liệt chi dưới[1][2][3][4][5].
  • Đau bụng, đầy bụng[1][2][3][4][5], khó tiêu, chán ăn[1][4][5], nôn mửa, tiêu chảy[1][2][4].
  • Đái khó, đái buốt, đái dầm[1][2][4][5], di mộng tinh[1][2][4][5], rối loạn kinh nguyệt, rong huyết, rong kinh, bế kinh, thống kinh, khí hư[1][2][3][4][5].
  • Toàn thân đau nhức, nặng nề[1][5], mất ngủ[1][5].
Cách châm            : Châm thẳng hoặc nghiêng, sâu 0,5-1 thốn. Không châm cho phụ nữ có thai.Cứu 5-10 phút.

 

Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Peter Deadman, 2000. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications.
Claudia Focks, 2008. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone.
Claudia Focks, 2008. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone.

Continue reading “CÁC HUYỆT TRÊN KINH TÚC THÁI ÂM TỲ”

MỘT SỐ HUYỆT TRÊN KINH TÚC DƯƠNG MINH VỊ (update 2016)

9 HUYỆT

Tứ bạch ST-2, Địa thương ST-4, Giáp xa ST-6, Hạ quan ST-7, 
Thiên xu ST-25, Lương khâu ST-34, Độc tỵ ST-35,
Túc tam lý ST-36, Nội đình ST-44

TỨ BẠCH (ST-2)

Vị trí: 

Trên đường thẳng dọc qua đồng tử, dưới đồng tử 1 thốn,1,6,8 trong chỗ lõm ở lỗ dưới ổ mắt.3,5,6,7,8

Chủ trị:
Đau mắt, đỏ mắt (viêm màng tiếp hợp), co giật mi mắt, liệt mặt.

Cách châm:  

Châm thẳng, sâu 0,2-0,4 thốn;6 hoặc châm ngang hướng đến các huyệt như huyệt Quyền liêu SI-8 hoặc Nghinh hương L.I.-20,.v.v… hoặc châm chếch hướng ra phía trên-ngoài, dọc theo lỗ dưới ổ mắt, sâu 0,3-0,5 thốn.6

Ghi chú: Theo một số tài liệu truyền thống, chống chỉ định cứu đối với huyệt này.5,6

Chú ý: Châm sâu dọc ổ mắt có thể tổn thương nhãn cầu;5,6 chống chỉ định đối với thủ pháp nâng ấn kim do có nguy cơ gây tổn thương dây thần kinh dưới ổ mắt xuất ra từ lỗ này.5,6

Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.
Claudia Focks. Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone, 2008.

Continue reading “MỘT SỐ HUYỆT TRÊN KINH TÚC DƯƠNG MINH VỊ (update 2016)”

MỘT SỐ HUYỆT TRÊN KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG (update 2016)

5 HUYỆT

HỢP CỐC L.I.-4, THỦ TAM LÝ L.I.-10, KHÚC TRÌ L.I.-11,
KIÊN NGUNG L.I.-15, NGHINH HƯƠNG L.I.-20 

HỢP CỐC (L.I.-4)

Đặc điểm:

Huyệt Nguyên. Một trong “Lục tổng huyệt” chủ trị bệnh lý vùng mặt, miệng.

Vị trí:

Ở mu bàn tay, giữa xương đốt bàn tay 1 và 2,1,2,3,5,7 chỗ lõm phía dưới2,5 bờ quay (bờ ngoài) xương đốt bàn tay 2,2,3,5,7 ngang chỗ nối thân với đầu gần (đầu trên) xương đốt bàn tay 21

Cách xác định:

  • Dạng ngón cái và ngón trỏ, lấy nếp gấp giữa đốt 1 và đốt 2 của ngón tay cái bên kia để vào chỗ mép da nối ngón trỏ và ngón cái tay đang dạng (hổ khẩu), áp đầu ngón cái lên mu bàn tay giữa 2 xương đốt bàn 1 và 2, đầu ngón cái ở đâu nơi đó là huyệt, ấn vào có cảm giác ê tức1,2,4,5,7
  • Hoặc vuốt giữa xương đốt bàn tay 1 và 2 lên đến góc tạo bởi hai đầu xương đốt bàn tay 1 và 2,3 huyệt nằm ở chỗ lõm phía dưới2,5 bờ quay của xương đốt bàn tay 22,3,5,7
  • Hoặc dạng ngón cái và ngón trỏ, lấy huyệt ở chỗ lõm giữa tĩnh mạch ngoài ở mu tay và xương đốt bàn tay 2, ngang với chỗ tiếp nối của thân với đầu trên xương bàn tay 21.

Chủ trị:

  • Đau tê bàn tay, ngón tay,1,2,3 đau cánh tay,1,4,7 đau vai,1,2,4 yếu liệt chi trên,1,8
  • Liệt mặt,1,2,3,4,7,8 sưng mặt,1,7 đau họng,1,4,7 đau răng,1,2,3,4,7,8 ù tai,1,2 viêm mũi,3 nghẹt mũi,3 chảy máu mũi,1,2 đau mắt đỏ,1,7
  • Đau đầu,1,2,3,4,7 cảm mạo,8 sốt không ra mồ hôi,1,2,7 hoặc ra nhiều mồ hôi,1,7 đau bụng,2,7 táo bón,2,7 kiết lỵ,2,7
  • Bế kinh,1,2,4,7 chậm chuyển dạ,7 đột quỵ,1,4 co giật,2

Cách châm:

Châm thẳng, sâu 0,5-1 thốn. Không châm cho phụ nữ có thai.

hop-coc
Peter Deadman, Kevin Baker and Mazin Al-Khafaji. A Manual of Acupuncture. Journal of Chinese Medicine Publications, 2000 _ edited by phucdoan

Continue reading “MỘT SỐ HUYỆT TRÊN KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG (update 2016)”