RSS

Lưu trữ theo thẻ: Viêm phế quản mạn tính

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 2

1.ĐIỀU TRỊ

2.Nguyên tắc chỉ đạo thực hành lâm sàng dựa trên các bằng chứng của Hiệp hội bác sĩ lồng ngực của Mỹ (American College of Chest Physicians-ACCP).


Việc điều trị bệnh nên dựa trên những yếu tố sau đây:

  • Tuổi, tình trạng sức khỏe tổng quát và bệnh sử
  • Mức độ nặng nhẹ của bệnh
  • Khả năng đáp ứng đối với thuốc, thủ thuật hoặc các liệu pháp khác
  • Kinh nghiệm bác sĩ

Mục đích điều trị viêm phế quản mạn là làm giảm triệu chứng, bảo đảm thông suốt đường thở và phục hồi chức năng hô hấp, ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển của bệnh.

1. Bỏ hút thuốc

Bỏ hút thuốc lá là phần quan trọng nhất trong điều trị.

2. Kháng sinh


3. Thuốc dãn phế quản

Thuốc dãn phế quản giúp loại bỏ tình trạng tăng tiết phế quản đồng thời làm giảm co thắt phế quản, giảm tắc nghẽn đường thở. Nhờ vậy, lượng oxy cung cấp cho phổi nhiều hơn nên bệnh nhân thở tốt hơn.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 16/03/2010 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

Thẻ: , ,

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 1

1.Đại cương:
1.1. Định nghĩa:

-Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính  của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm lâu ngày, liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng (90 ngày) trong một năm và ít nhất là 2 năm liền sau khi loại trừ các nguyên nhân gây ho khạc đờm mạn tính khác như lao phổi, áp xe phổi, giãn phế quản… (theo hội thảo quốc tế tại Anh 1965)

1.2. Phân loại:
- Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.
- Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn  lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease).
- Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: (Brochit chronic mucopurulence) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

1.3. Nguyên nhân và bệnh sinh:
- Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
- Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
- Nhiễm khuẩn:  vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
- Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA  , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
- Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
- Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
+ Biến đổi chất gian bào.
+ Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.
+ Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

1.4. Giải phẫu bệnh lý:

  • Tổn thương từ khí quản-phế quản lớn đến các phế quản tận, bao gồm: phá huỷ biểu mô phế quản, giảm tế bào lông và thay đổi cấu trúc rung mao, quá sản các tế bào hình đài, tăng sản và phì đại tuyến nhầy, chỉ số Reid ³0,7 là chỉ số của bề dầy tuyến / thành phế quản, (bình thường chỉ số này £ 0,4).

Viêm phế quản mạn tính gây phì đại các tuyến tiết nhầy trong khí quản và phế quản. Chỉ số Reid là tỉ lệ bề dày lớp tuyến nhầy so với bề dày thành phế quản (nằm giữa lớp biểu mô và lớp sụn phế quản). Chỉ số Reid bình thường là dưới 0,4 và tăng trong viêm phế quản mạn tính.

Read the rest of this entry »

 
4 Comments

Posted by on 14/03/2010 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

Thẻ: ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.