RSS

Category Archives: Uncategorized

THÔNG TIN Y HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU (ACUPUNCTURE)

THÔNG TIN Y HỌC VỀ KHOA CHÂM CỨU (ACUPUNCTURE)

Lynn Ly tổng hợp thông tin về Khoa Châm Cứu (Acupuncture)
từ các bài Thời Sự Y Học của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh

Thời Sự Y Học Số 15 – BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/2/2007 )

8/ CHÂM CỨU CÓ HIỆU QUẢ HƠN PLACEBO.

Đó là kết luận được đưa ra lần đầu tiên năm 2005 bởi một công trinh của các nhà sinh ly học thần kinh Anh của Đại Học Southhampton và được công bố trong Neuro Image.Để tránh hiệu quả placebo do chờ đợi kết quả nơi những người bị bệnh viêm khớp,các nhà nghiên cứu đã dùng một mẹo và nhờ đến chụp hình não bộ.Trong nhóm đầu tiên,các nhà nghiên cứu báo cho bệnh nhân biết rằng họ sử dụng các kim cùn không có tác dụng.Trong nhóm thứ hai,họ sử dụng các kim giả,cho cảm giác bị chích nhưng kim khong xuyên qua bì.Sau cùng nhóm bệnh nhân thứ ba mới được chích kim châm cứu thật sự.Phân tích kết quả PET-Scan (tomographies par émission de positons) đã chứng tỏ rằng chỉ có châm cứu làm gia tăng sự hoạt hoá insula, một vùng của vỏ não có liên quan trong sự cảm nhận cảm giác đau đớn.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2007)

Thời Sự Y Học Số 54 – BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 9/12/2007 )

5/ CHÂM CỨU ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ CÓ HIỆU QUẢ 

Nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng tỏ tính hiệu quả của châm cứu, kỹ thuật xa xưa này ở châu Á.

Mặc dầu chưa có một giải thích khoa học nào về các hiệu quả của châm cứu, hàng ngàn các thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng châm cứu có thể có hiệu quả để điều trị một vài rối loạn. Ngay năm 1997, các Viện Y Tế Quốc Gia của Hoa Kỳ đã xác nhận lợi ích y khoa của châm cứu để điều trị các triệu chứng nôn và mửa sau hoá học trị liệu pháp hoặc sau một phẫu thuật, các triệu chứng nôn trong thời kỳ thai nghén và các đau đớn sau khi giải phẫu răng.

« Từ năm 1973, BS Johan Nguyễn thuộc Collège français d’acupuncture nói rõ, đã có hơn 3000 thử nghiệm lâm sàng trong đó châm cứu được so sánh hoặc với một châm cứu giả (acupuncture factice), hoặc với một điều trị khác nơi các bệnh nhân được lựa chọn bằng cách rút thăm. Các kết quả thử nghiệm đã chứng tỏ lợi ích của châm cứu đặc biệt đối với đau lưng mãn tính (lombalgie chronique), bệnh hư khớp (arthrose) gối và các viêm gân ở cùi chỏ. Nơi các bà mang thai với thai phô mông (présentation du siège), cứu một huyệt nơi ngón chân út gây nên sự xoay thai, như vậy tránh được 62% các trường hợp (so với 47% nếu không được cứu), thai phô mông, nguồn gốc của những biến chứng và mổ césarienne phòng ngừa. ». Đó cũng là ý kiến của Edzard Ernst, chuyên gia người Anh về đánh giá các nền y học cổ truyền.

 

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 27/02/2011 in Uncategorized

 

VƯƠNG THANH NHẬM (1768 – 1831)

VƯƠNG THANH NHẬM (1768 – 1831)


Vương Thanh Nhậm, (có tên là Toàn Nhậm), tự Huân Thần, người Trực Lệ, Ngọc Điền (nay là Hà Bắc, Ngọc Điền), thầy thuốc trứ danh đời Thanh, chú trọng giải phẫu và có tinh thần cải cách.

Lúc tuổi nhỏ, ông thích quyền thuật, từng thi đỗ võ Tú tài, lại quyên tiền mua chức ‘Thiên tổng’ (võ quan nhỏ). Ông nghiên cứu sâu y học và hành nghề y hồi 20 tuổi Trên 30 tuổi ông nổi tiếng là thầy thuốc giỏi ở chốn hương lý.

Ông từng đi qua các nơi như Loan Châu (nay là Hà Bắc, vùng Đường Sơn), Phụng Thiên nay là Thẩm Dương) khảo sát việc giải phẫu thi thể. Về sau ông đến Bắc Kinh hành y, mở hiệu thuốc ‘Tri Nhất đường’, có tiếng ở kinh sư. Ông cùng với Phò mã Na Dẫn Thành nhà Thanh giao hảo, kết làm anh em khác họ và ngụ cư ở phủ đệ lâu đến vài năm, sau đó bị bệnh chết ở đấy.

Cách trị bệnh của ông nặng về mặt cải cách, chú trọng thực tiễn. Trong quá trình hành nghề, ông chủ trương ‘thầy thuốc chẩn bệnh’, trước phải biết rõ tạng phủ người bệnh’, nếu không ‘cội nguồn đã sai, muôn lối đều mất’. Ông phát hiện cổ nhân luận thuyết về tạng phủ có không ít chỗ mâu thuẫn với hình vẽ, đã từng cảm khái nói: ‘Viết sách mà không biết rõ tạng phủ như ngoi mê nói mộng; trì bệnh mà không rõ tạng phủ thì không khác người mù đi đêm?’ Và ông quyết tâm trình bày rõ tình huống chân thật của tạng phủ.

Niên hiệu Gia Khánh, năm thứ 2 (1797), ông đi qua địa trấn Loan Châu, đang lúc bệnh ôn dịch lưu hành, trẻ con mười chết mất tám chín, hàng trăm thây người bỏ nằm ở nghĩa địa, phần nhiều bị chó hoang cắn xé lộ cả gan ruột. Ông không nệ ô uế, trong mười ngày liền quan sát hơn 30 thi thể trẻ con, nhưng vẫn chưa thấy rõ hình thái của tấm hoành cách mô. Sau đó, lại hai lần đến pháp trường quan sát hình phạt phân thây, cũng chưa thấy rõ. Mãi đến niên hiệu Đạo Quang, năm thứ 9 (1829), nhiều lần thấy được thi thể ở chiến trường lần chót thấy được rõ ràng.

Ông trước sau suốt 42 năm vì một việc tạng phủ, nay đã minh xác nên vẽ thành bức đồ họa, đồng thời kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng trong nhiều năm, vào năm Đạo Quang thứ 10 (1830) soạn thành sách ‘Y Lâm Cải Thác’. Y Lâm Cải Thác’ phản ánh thành tựu chủ yếu của ông ở mặt y học thứ nhất là đối với sự nghiên cứu về giải phẫu thi thể con người, đính chính một số sai lầm của người xưa về tạng phủ, phát hiện một số khí quan trong thân thể mà người xưa chưa đề cập, đồng thời chỉ chính xác một số hiện tượng sinh lý, bệnh lý trọng yếu.

Thứ hai là đối với học thuyết khí huyết là một phát huy mới. Ông căn cứ trên nhận thức ‘khí có hư thực, huyết có suy ứ’, cả một đời trong thực tiễn lâm sàng, tổng kết ra 60 loại khí hư chứng , 50 loại huyết ứ chứng , đồng thời sáng lập ra hai nguyên tắc trị liệu: bổ khí hoạt huyết và trục ứ hoạt huyết.

Vì sự hạn chế của điều kiện lịch sử, sự quan sát tạng phủ của ông vẫn có chỗ ức đoán và ghi lầm, như nói: tâm vô huyết, động mạch là khí quản, v.v… Nhưng nếu đem so sánh với thành tựu vĩ đại của ông thì là thứ yếu thôi. Tinh thần quí báu của ông là dám nghi người xưa, dám đưa sáng kiến đổi mới và sự cống hiến trác việt của ông cho y học đến ngày nay vẫn được người ta khẳng định.
Ông mất năm 1831, hưởng thọ 63 tuổi.

 
Leave a comment

Posted by on 15/09/2009 in Uncategorized

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.