RSS

Category Archives: BỆNH HỌC TÂY Y

Thuốc chẹn beta có hiệu quả tốt đối với bệnh nhân mắc bệnh phổi (COPD)_new 24/5/2010

ScienceDaily (May 24, 2010) — Patients with chronic obstructive pulmonary disease (COPD) may have fewer respiratory flare-ups and longer survival if they take beta-blocker medications, according to a report in the May 24 issue of Archives of Internal Medicine, one of the JAMA/Archives journals.

Tham khảo

http://timesofindia.indiatimes.com/life/health-fitness/health/Beta-blockers-benefits-patients-with-lung-disease/articleshow/5972986.cms

Beta-blocker medications could be good for patients with chronic obstructive pulmonary disease (COPD), claim scientists.

COPD is a diagnosis that includes emphysema and chronic bronchitis. Patients with the condition are also prone to develop and die from cardiovascular diseases. Medications known as beta-blockers, used to treat high blood pressure and heart rhythm disorders, are known to improve the survival of patients with cardiovascular disease. However, clinicians avoid use of beta-blockers in patients with COPD because of concerns about adverse effects on the lungs.

To reach the conclusion, Frans H. Rutten, M.D., Ph.D., of University Medical Center Utrecht , the Netherlands, studied data from electronic medical records of 2,230 patients (average age 64.8) with COPD who visited 23 general medical practices between 1996 and 2006. Of these, 560 had COPD at the start of the study and 1,670 developed it during the study period; 665 used beta-blockers and 1,565 did not.

During an average of 7.2 years of follow-up, 686 patients (30.8 per cent) died, including 27.2 percent of those who used a beta-blocker compared with 32.3 per cent of those who did not use a beta-blocker. In addition, 1,055 patients (47.3 per cent) had at least one exacerbation of COPD, including 42.7 per cent of those who had used a beta blocker and 49.3 per cent of those who did not use a beta-blocker.
Read the rest of this entry »

 
 

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 2

1.ĐIỀU TRỊ

2.Nguyên tắc chỉ đạo thực hành lâm sàng dựa trên các bằng chứng của Hiệp hội bác sĩ lồng ngực của Mỹ (American College of Chest Physicians-ACCP).


Việc điều trị bệnh nên dựa trên những yếu tố sau đây:

  • Tuổi, tình trạng sức khỏe tổng quát và bệnh sử
  • Mức độ nặng nhẹ của bệnh
  • Khả năng đáp ứng đối với thuốc, thủ thuật hoặc các liệu pháp khác
  • Kinh nghiệm bác sĩ

Mục đích điều trị viêm phế quản mạn là làm giảm triệu chứng, bảo đảm thông suốt đường thở và phục hồi chức năng hô hấp, ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển của bệnh.

1. Bỏ hút thuốc

Bỏ hút thuốc lá là phần quan trọng nhất trong điều trị.

2. Kháng sinh


3. Thuốc dãn phế quản

Thuốc dãn phế quản giúp loại bỏ tình trạng tăng tiết phế quản đồng thời làm giảm co thắt phế quản, giảm tắc nghẽn đường thở. Nhờ vậy, lượng oxy cung cấp cho phổi nhiều hơn nên bệnh nhân thở tốt hơn.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 16/03/2010 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

Thẻ: , ,

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH (CẬP NHẬP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ) – PHẦN 1

1.Đại cương:
1.1. Định nghĩa:

-Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính  của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm lâu ngày, liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng (90 ngày) trong một năm và ít nhất là 2 năm liền sau khi loại trừ các nguyên nhân gây ho khạc đờm mạn tính khác như lao phổi, áp xe phổi, giãn phế quản… (theo hội thảo quốc tế tại Anh 1965)

1.2. Phân loại:
- Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.
- Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn  lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease).
- Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: (Brochit chronic mucopurulence) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

1.3. Nguyên nhân và bệnh sinh:
- Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
- Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
- Nhiễm khuẩn:  vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
- Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA  , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
- Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
- Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
+ Biến đổi chất gian bào.
+ Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.
+ Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

1.4. Giải phẫu bệnh lý:

  • Tổn thương từ khí quản-phế quản lớn đến các phế quản tận, bao gồm: phá huỷ biểu mô phế quản, giảm tế bào lông và thay đổi cấu trúc rung mao, quá sản các tế bào hình đài, tăng sản và phì đại tuyến nhầy, chỉ số Reid ³0,7 là chỉ số của bề dầy tuyến / thành phế quản, (bình thường chỉ số này £ 0,4).

Viêm phế quản mạn tính gây phì đại các tuyến tiết nhầy trong khí quản và phế quản. Chỉ số Reid là tỉ lệ bề dày lớp tuyến nhầy so với bề dày thành phế quản (nằm giữa lớp biểu mô và lớp sụn phế quản). Chỉ số Reid bình thường là dưới 0,4 và tăng trong viêm phế quản mạn tính.

Read the rest of this entry »

 
4 Comments

Posted by on 14/03/2010 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

Thẻ: ,

VỊ TRÍ NGHE ÂM PHỔI

VỊ TRÍ NGHE ÂM PHỔI

Hình vẽ dưới đây giúp bạn xác định được vị trí trên cơ thể bệnh nhân tương ứng với giải phẫu bên dưới. Bản đồ đường hô hấp thường được dùng để xác định vị trí nghe âm phổi giúp bạn đánh giá được các thùy phổi. Bạn có thể nghe âm phổi theo các đường vẽ phía trước, phía sau và phía bên.

Read the rest of this entry »

 
 

Thẻ: , , ,

RAN PHỔi (RALE)

Bài viết trích từ http://diendanykhoa.com/showthread.php?t=1186

Nếu các bạn đọc các sách triệu chứng bằng tiếng Anh, các bạn sẽ thấy một điều là hầu như các tác giả không dùng thuật ngữ “rale” để mô tả dấu hiệu lâm sàng khi khám phổi. Thay vào đó, họ dùng các thuật ngữ như breath sounds, wheezes và crackles. Điều này khiến cho nhiều bạn sinh viên y khoa cảm thấy bối rối khi học sách triệu chứng tiếng Việt và tham khảo thêm sách tiếng Anh.
Vì sao như vậy? Koala sẽ trình bày lý do qua bài viết sau đây.
Trước hết nói về Rales

Rales (tiếng Việt là “ran”) là những âm thanh trong phổi xuất phát từ sự di chuyển dịch hoặc chất xuất tiết trong khí đạo hoặc từ đường dẫn khí qua các đoạn hẹp. Ran có thể biến mất khi thở sâu hoặc ho.

Theo cách phân loại của Cabot và Adams, ran gồm các loại với những đặc trưng riêng như sau:

  • Ran ẩm (moist rales) xuất phát từ những chất tiết tương đối lỏng trong khí đạo
  • Ran khô (dry rales) (ran nổ) tạo ra từ chất tiết đặc hoặc sự rung động (vibration) của các màng.

Ran ẩm lại được chia thành các loại sau:

  • Ran ẩm thô (moist coarse rales, hoặc rhonchi hoặc gurgling rales) thường gặp ở những người sắp chết hoặc quá yếu để khạc đàm khỏi khí đạo.
  • Ran ẩm vừa hạt (moist medium or crepitant rales) xuất hiện do dịch tương đối lỏng di chuyển trong phế quản và tiểu phế quản. Chúng nghe như tiếng clicks hoặc những bong bóng nhỏ và hiện diện trong viêm phế quản, đông đặc phổi do viêm phổi, nhồi máu phổi, hang phổi và lao phổi.
  • Ran ẩm nhỏ hạt (moist fine, crackling or subcrepitant rales) được cho là xuất phát từ dịch trong phế nang. Chúng nghe như vò tóc giữa các ngón tay. Chúng có giá trị tương tự ran ẩm vừa hạt.

Ran khô (ran nổ) được hình thành từ do sự chuyển động của các dịch tiết đặc hoặc sự rung động của các màng bị phù và viêm.

  • Nếu chúng có âm sắc cao thì được gọi là ran âm nhạc (musical rales, nhưng sách y khoa tiếng Việt thường gọi là ran rít)
  • Nếu âm sắc thấp thì chúng được gọi là sonorous rales (không biết sách tiếng Việt mình dịch là gì!)

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 10/03/2010 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

Thẻ: , ,

ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP – TÂY Y

II.ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc chung

  • VKDT là bệnh mạn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến hết cả đời.
  • Điều trị phải kết hợp chặt chẽ giữa nội khoa, lý liệu phục hồi chức năng và ngoại khoa.
  • Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn nội trú, ngoại trú và điều dưỡng.
  • Trong quá trình điều trị cần theo dõi chặt chễ diễn biến của bệnh và các tai biến biến chứng có thể xảy ra.

2. Điều trị nội khoa

2.1. Với thể nhẹ và giai đoạn I

    • Aspirin 1-2g/24h, chia làm nhiều lần.
    • Cloroquin (Delagyl) 0,2-0,4g/24h, uống liên tục kéo dài hàng tháng.
    • Tiêm Hydrocortison acetat vào một vài khớp viêm nhiều.
    • Tăng cường vận động, tập luyện, điều trị bằng các phương pháp vật lý.
    • Tránh ẩm thấp, lạnh, cần làm việc nhẹ.
    • Có thể điều trị kết hợp bằng thuốc Y học cổ truyền.

Read the rest of this entry »

 
3 Comments

Posted by on 10/06/2009 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP – TÂY Y


I. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:

A. Tổng quan:

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng khớp, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài biểu hiện chính tại khớp, người bệnh còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt, gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác. Bệnh thường gặp ở nữ (75 %), lứa tuổi 30 đến 60.

Khi có các dấu hiệu lâm sàng nêu trên, người bệnh cần được gửi tới khám bác sĩ chuyên khoa Khớp (Rheumatologist) càng sớm càng tốt. Bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm và thăm dò cần thiết để chẩn đoán xác định, để đánh giá tình trạng bệnh, để tiên lượng bệnh và chọn lựa một chiến lược điều trị phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.

Các xét nghiệm và thăm dò cần thiết:

  • Tốc độ máu lắng (ESR) và/hoặc C-Reactive Protein (CRP)
  • Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Factor – RF)
  • X quang khớp bị tổn thương (đặc biệt hai bàn tay)
  • Đánh giá chức năng khớp
  • Đánh giá sức khỏe chung và khả năng làm việc của người bệnh

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 10/06/2009 in BỆNH HỌC TÂY Y

 

HEN PHẾ QUẢN – TÂY Y

HEN PHẾ QUẢN


1.ĐẠI CƯƠNG:

Hen phế quản là bệnh viêm nhiễm mãn tính đường hô hấp dẫn đến làm tắc nghẽn luồng khí thở do co thắt phế quản, do sưng phù làm hẹp lòng phế quản và do đờm được tiết ra nhiều khi viêm, làm cho bệnh nhân bị ho, khó thở và khò khè tái đi, tái lại.

Đây là một bệnh về đường hô hấp thường gặp, xảy ra với nhiều lứa tuổi và khó chữa trị. Hiện nay trên thế giới có hơn 300 triệu người mắc bệnh hen, tỷ lệ 4-12% dân số, mỗi năm có khoảng 20 vạn người tử vong do hen (còn gọi là suyễn) (1). Theo tạp chí y học của Anh “The Lancet” mức tăng hàng năm của số bệnh nhân hen là 50%. Tại những nước có nền y học phát triển mạnh tỷ lệ bệnh nhân hen cũng khá cao: tại Đức 20% số người lớn và 10% số trẻ em mắc bệnh hen, hàng năm ở nước này có 6.000 người chết do bị nghẹt thở (2). Tại Pháp, hen là chứng bệnh của 3 triệu người và gây ra 2.000 ca tử vong mỗi năm(3).

Hen ác tính (HAT) gặp từ 5-12% ở bệnh nhân hen. Tỷ lệ tử vong trong các Khoa hồi sức tích cực là 5%. Theo sự phân bậc hen tại Đại hội Hô hấp châu Á – Thái Bình Dương tại Quảng Châu thì HAT được xếp vào bậc 4, tức bậc nặng và kéo dài.

Hen Phế Quản không được chữa khỏi, kéo dài sẽ gây ra những hậu quả xấu sau:

  • Chức năng phổi suy giảm: làm cho lượng Oxy trong máu giảm xuống, lượng Cabonic tăng lên, làm cho bệnh nhân ngày càng yếu mệt, nếu nặng quá cơ thể thiếu Oxy, phải cấp cứu.
  • Ảnh hưởng tới giấc ngủ: Bệnh nhân Hen Phế Quản thường khó ngủ, bệnh thường nặng về đêm, có khi nằm không thở được, phải ngồi dậy!.
  • Năng suất học tập, công tác giảm, bệnh nặng còn phải nghỉ học, nghỉ lao động.
  • Hình thể bệnh nhân thay đổi: Các cháu bị Hen Phế Quản nặng thường chậm lớn, còi cọc, hai vai so, lưng hoặc ngực bị dô ra.
  • Sức khỏe bệnh nhân suy giảm dần, tần suất Hen Phế Quản ngày càng tăng lên. Khi bệnh nặng, sức khỏe yếu, nếu nghẹt thở không cấp cứu kịp bệnh nhân có thể tử vong vì thế người ta thường nói “người bị bệnh hen thường bất đắc kỳ tử”.

Ngày 3 tháng 5 hàng năm được gọi là ngày hen toàn cầu, được tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra nhằm nâng cao nhận thức và rút kinh nghiệm điều trị bệnh hen ở cả thầy thuốc và bệnh nhân trên toàn thế giới.

Read the rest of this entry »

 
 

Thẻ: , ,

BỆNH GOUT


BỆNH GOUT


ĐẠI CƯƠNG



Bệnh Gout và các mốc lịch sử

Gout là bệnh được biết và mô tả từ thời Hy Lạp cổ. Ngay từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, Hyppocrates đã mô tả rõ một biểu hiện rất đặc trưng của bệnh là sưng tấy, nóng, đỏ và rất đau ở ngón chân cái (Podagra), ông còn gọi bệnh Gout là “Vua của các bệnh” và “bệnh của các Vua” (“King of Diseases” and “Disease of Kings”).

Suốt gần 2.000 năm sau những mô tả và nhận định này của Hyppocrates, nhân loại chẳng biết thêm gì đáng kể về căn bệnh này, ngoại trừ một mô tả lâm sàng hết sức sống động, hết sức chân thực của một bác sĩ người Anh, kiêm một nạn nhân của bệnh Gout – Sydenham, năm 1683. Lúc này, ngoài ngón chân cái, Sydenham còn nêu thêm một số vị trí khác cũng có thể bị bệnh Gout tấn công như: khớp bàn ngón chân, khớp cổ chân…

Mãi tới cuối thế kỷ 18, các nhà khoa học Đức và Mỹ mới phát hiện được các tinh thể urate trong các u cục (tophi) quanh khớp, trong các viên sỏi ở hệ tiết niệu, đồng thời phát hiện được sự khác nhau giữa lượng acide uric ở nước tiểu người bình thường và người bệnh. Sau các phát hiện trên là một loạt các nghiên cứu của các nhà khoa học Anh, Đức, Mỹ, Nga… Cho đến giữa thế kỷ 20, các nhà khoa học đã làm được rõ các nguyên nhân gây tăng acid uric máu, đã tìm thấy tinh thể urate dịch khớp, ở sụn khớp, ở các tổ chức dưới da, đã tìm được lý do làm khớp bị viêm cấp và người ta có thể gây viêm khớp thực nghiệm bằng chích tinh thể urate vào ổ khớp. Cũng từ đây các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh Gout đã dần được củng cố và hoàn thiện.

Những quan niệm chung về bệnh Gout

Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa purin ở người, mà nguồn gốc từ việc tiêu hủy các acid nhân của tế bào và hoặc giảm bài xuất acid uric ra nước tiểu, gây tăng acid uric trong máu. Ơû người bình thường lượng acid uric máu từ 3-5mg% (hay 180-300 m mol/L). Acid uric máu cao khi bằng hoặc trên con số 7 mg/% (hay 420 m mol/L).

Bệnh Gout, còn gọi là thống phong, là bệnh lý ứ đọng tinh thể monosodium urate tại khớp và mô liên kết nơi khác do tăng quá độ acid uric trong máu. Biểu hiện lâm sàng thường là hội chứng viêm một hoặc nhiều khớp cấp tính, tái diễn và một số biến chứng ở cơ quan khác. Khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện là bệnh nhân đã có tăng acid uric trong máu một thời gian dài; tuy nhiên, cũng có một số ngừơi chỉ có hội chứng tăng acid uric/máu màkhông hề đưa đến viêm khớp gout. Hội chứng tăng acid uric và bệnh gout có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp.
Phụ nữ rất ít bị bệnh Gout, nếu bị thường ở lứa tuổi trên 60.
Thường bắt đầu vào cuối tuổi 30 và đầu tuổi 40 của cuộc đời.

Tuy nhiên không phải cứ có acid uric máu cao là bị bệnh Gout. Nếu chỉ có acid uric máu cao đơn thuần, chỉ được gọi là tình trạng tăng acid uric máu không triệu chứng. Người bệnh nên được theo dõi sức khỏe thường kỳ, nên hạn chế protid trong khẩu phần ăn hàng ngày, hạn chế uống rượu, giảm cân nặng nếu có quá cân và tăng cường vận động để tránh dư cân.

Chỉ gọi là bệnh Gout khi tình trạng tăng acid uric máu gây những hậu quả xấu cho cơ thể. Hậu quả trước mắt của bệnh là gây các đợt viêm khớp Gout cấp – nỗi kinh hoàng cho những ai bị Gout, tuy nhiên ở giai đoạn đầu các đợt viêm này thường không kéo dài, không thường xuyên và rất dễ chữa. Nếu bệnh không được điều trị đúng và đủ, các đợt viêm khớp sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn, khó chữa hơn và hậu quả lâu dài và cố định của bệnh sẽ là viêm nhiều khớp, xuất hiện nhiều u cục quanh khớp, cứng khớp, biến dạng khớp, tàn phế, sỏi hệ tiết niệu đặc biệt là sỏi thận và nguy hiểm hơn cả là suy chức năng thận, đây là nguyên nhân chính làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân Gout.

Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa, các bệnh rối loạn chuyển hóa và liên quan đến rối loạn chuyển hóa thường hay đi kèm với nhau vì vậy bệnh nhân Gout thường dư cân, thường mắc thêm một hay nhiều bệnh như: xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường, rối loạn lipid máu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch não… Nói cách khác các bệnh nhân bị các bệnh nói trên rất dễ bị bệnh Gout.

Read the rest of this entry »

 
 

Thẻ:

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.