Chinese Acupuncture and Moxibustion Video 30 VCD – Link Filefactory và Megaupload

Chinese Acupuncture and Moxibustion Video – VCD (1 – 30-Full Set)

Acupuncture treatment is treasure house of traditional Chinese medicine in a brilliant display of Pearl, is the common treasure of all mankind. Acupuncture in this series on the origin, history of acupuncture treatment from the home and acupuncture, and the development of modern acupuncture. Shanghai University of Traditional Chinese Medicine Part of the production, the Executive Editor Li Ding, Lu Po-kan

BRIEF INTRODUCTION TO 30 CHAPTERS

Chapter 1. Introduction – This part presents the history, present situation, basic contents and learning methods of acupuncture and moxibustion. Through the clinical practice, the basic concepts as “Zhen” (acupuncture), “Jiu” (moxibustion), “Jing” (meridians) and “Xue” (points ) are introduced. This part will give a complete and clear picture of the developing process of Jingluo and points, the origin and evolution of needling instruments and Jiu (moxibustion) therapy, and the applications of new zhenjiuologic methods.

IMG | 487.8 Mb

Chapter 2. Jingluo (Meridian & Collaterals) – This part presents the passages, main diseases, and indications of 12 Jingmai (Meridians), and 8 Extra Meridians. It also introduces the distributing ranges and main functions of 12 Divergent Meridians, 12 muscle regions, 12 cutaneous and 15 Luomai (Collaterals).

IMG | 524.5MB

Đọc tiếp

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO – ĐÔNG Y

KHIÊM TRAI Y HỌC GIẢNG CẢO

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO

Tần Bá Vị

Người dịch: Lương y Nguyễn Thiên Quyến

Modified: Đoàn Vũ Xuân Phúc

Nếu như được phép nói, làm một thầy thuốc mà không biện chứng thi trị được tốt chứng cảm mạo, thậm chí chỉ dùng một vài loại thuốc thành phẩm để ứng phó, hoặc là không nắm vững được quy luật chung về điều trị cảm mạo mà chỉ chăm chú vào điều trị những bệnh phức tạp như Ôn bệnh, Thương hàn… đều rất khó tưởng tượng được. Các bạn đã qua học tập, nâng cao trình độ, nhưng chính vì trình độ được nâng cao đó, đối với tật bệnh được xem là nông nhẹ ấy, cần phải đặc biệt chú ý.

Nguyên nhân, cơ chế bệnh và chứng trạng của cảm mạo, sách Trung y nội khoa học giảng nghĩa đã nói rõ ràng, không cần nói lại. Trọng điểm ở đây là nói biện chứng thi trị, đó cũng là làm sao đem được kiến thức sách vở để vận dụng trong lâm sàng cho chính xác.

Nguyên nhân bệnh chủ yếu của cảm mạo là phong tà, muốn khu phong nên dùng thuốc tân tán. Vì khí hậu bốn mùa khác nhau, phong tà xâm nhập cũng thường kiêm cả thời khí khác nhau, nói chung gặp nhiều hai loại phong ôn và phong hàn, trong loại thuốc tân tán lại chia ra tân ôn và tân lương, đó là phép tắc cơ bản để chữa cảm mạo.

Trên cơ sở này, nếu chứng trạng kiêm thử, kiêm táo, kiêm thấp thì điều trị có thanh thử, nhuận táo, hóa thấp. Gặp bệnh nhân vốn có nội nhiệt nặng hoặc vốn có đờm thấp nhiều, cũng có thể kết hợp thanh nhiệt và hóa đàm.

Đọc tiếp

TÝ CHỨNG

TÝ CHỨNG



A.ĐẠI CƯƠNG

Chứng tý theo y học cổ truyền là một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay chân do khí huyết không lưu thông tốt gây bế tắc kinh lạc. Những chứng bệnh phong thấp, thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp, viêm cơ, đau thần kinh toạ, bệnh gút… đều có thể qui vào chứng tý.

Những bệnh thuốc tý chứng như:

  • Đau thần kinh tọa
  • Viêm đa khớp dạng thấp
  • Thấp khớp cấp
  • Bệnh gout

B.NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

“Chứng tý” được ghi đầu tiên trong sách “Nội kinh” như sau: “Phong hàn thấp 3 khí hợp lại gây nên chứng tý… ” và “Phong khí thắng là hành tý, hàn khí thắng là thống tý, thấp khí thắng là trước tý”.

Sách ‘Loại Chứng Trị Tài’ viết rõ thêm: ‘Các chứng tý… do dinh vệ hư, tấu lý không chặt, phong hàn thấp tà khí thừa lúc hư xâm nhập vào cơ thể, chính khí lưu thông bị tắc, sinh khí huyết ngưng trệ lâu ngày thành chứng tý”.

Theo Y văn cổ truyền thì nguyên nhân của “chứng tý ” là: Các tà khí phong hàn thấp nhiễm vào cơ thể sinh bệnh.

Những yếu tố thuận lợi có thể là: Trực tiếp mắc chứng ngoại cảm phong hàn thấp, sống nơi ẩm thấp, khí hậu gió lạnh, cơ thể suy yếu, dễ cảm thụ ngoại tà hàn thấp.

Nguyên nhân chính là do ngoại cảm phong hàn thấp xâm nhập mạch lạc gây khí huyết ứ trệ, mạch lạc không thông gây đau (thống tắc bất thông).

  • Nếu phong thịnh thì đau, đau lúc nhẹ lúc nặng, đau không cố định mà di chuyển gọi là phong tý hay hành tý.
  • Nếu hàn thịnh thì khí huyết ngưng trệ nặng nên đau nhiều, bộ vị đau cố định không di chuyển gọi là hàn tý hay thống tý.
  • Nếu thấp thịnh thì đau nhức không nặng lắm nhưng có cảm giác ê mỏi nặng nề, gặp thời tiết âm u, mưa lạnh ẩm ướt thì đau tăng, đau không di chuyển gọi là thấp tý hay trước tý.
  • Phong hàn thấp ngưng trệ trong cơ thể lâu ngày đều có thể hoá nhiệt mà sinh ra chứng nhiệt tý.

Tuy chứng tý có sự phân chia như vậy nhưng thực tế trên lâm sàng các chứng phong hàn thấp thường là tồn tại kết hợp nên đa số các thầy thuốc chia chứng tý làm 2 loại bệnh là

  • Phong hàn thấp tý
  • Phong thấp nhiệt tý

Đọc tiếp

BÀN VỀ BỆNH TÝ LÀ DO Ứ HUYẾT_VƯƠNG THANH NHẬM

BÀN VỀ BỆNH TÝ LÀ DO Ứ HUYẾT

Vương Thanh Nhậm


Tất cả những bệnh như đau vai, đau cánh tay, đau đùi, đau lưng hoặc khắp người nhức nhối ê ẩm… tất cả đều gọi là chung là bệnh tý.

Biết rõ ràng là bệnh tý là do người bệnh bị phong hàn xâm nhập, vậy mà thầy thuốc dùng thuốc ôn nhiệt để phát tán hong hàn lại không thấy khỏi.

Biết rõ ràng bệnh tý là do thấp nhiệt, vậy mà khi thầy thuốc dùng thuốc lợi thấp giáng hoảng lại cũng vô công.

Bệnh đã lâu ngày thì cơ nhục của bệnh nhân gầy mòn tiều tụy, thầy thuốc bèn cho là do âm hư, thế là dùng các bài thuốc bổ âm cho bệnh nhân uống mà cũng chẳng thấy công hiệu gì. Đến lúc đo thầy thuốc bèn than rằng:

“Than ôi! Bệnh còn ở ngoài bì phu kinh lạc thì còn chữa được, nay bệnh đã vào tận trong gân xương thì thật là khó chữa lắm thay!”

Đọc tiếp

TỨ CHẨN – VỌNG VĂN VẤN THIẾT



TỨ CHẨN – VỌNG VĂN VẤN THIẾT

VỌNG (THẦN, SẮC, HÌNH, THÁI)

Còn thần: Tỉnh táo, mắt sáng Không
Thất thần: Mệt mỏi, thờ ơ, nói không có sức Không
Sắc mặt Tươi nhuận Nhạt
Đỏ Vàng
Xanh Trắng
Đen xám
Sắc môi Tươi nhuận Nhạt, khô Thâm đen
Chất lưỡi Hồng Nhạt (trắng bệch)
Xanh tím Đỏ
Rêu lưỡi Trắng Vàng Đen
Mỏng Dày (bẩn) Không rêu
Ướt Khô Nhớt
Hình dáng lưỡi Bình thường To bệu Nhỏ
Dấu răng Không
Chấm đỏ, đỏ tím (vị trí) Không
Vận động lưỡi Run Lệch
Thể trạng (BMI) Gầy Trung bình Mập
Cơ nhục Teo cơ Không teo cơ
Phù (vị trí) Không
Tính tình Hòa nhã Cáu gắt, dễ nóng nảy


Đọc tiếp

PHONG TÀ

PHONG TÀ

Phong trong tự nhiên là một luồng khí vô hình, vì thế tà khí từ bên ngoài có đặc tính nhẹ bay, khai tiết, di động không cố định thì gọi là phong tà, bệnh do phong tà gây ra gọi là bệnh ngoại phong.

Chủ khí của phong là mùa xuân nhưng bốn mùa đều có, vì vậy bệnh do phong tà gây ra về mùa xuân nhiều nhưng không chỉ hạn chế ở mùa xuân mà các mùa khác đều có thể phát sinh.

Phong tà thường qua bì mao cơ tấu xâm phạm vào cơ thể gây ra các chứng bệnh ngoại phong. Sách Tố Vấn – Phong luận viết: Phong tà ở giữa bì phu… tấu lý, khai tất thoáng mà hàn, bế tất nhiệt mà bí”. Phong tà là một trong những tác nhân gây ra nhiều bệnh.

TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TÀ

a.Phong tính nhẹ nhàng, khai tiết, dễ xâm phạm vào dương phận.

  • Phong tà có đặc tính nhẹ nhàng, thăng tán, hướng lên trên, hướng ra ngoài.
  • Phong có tính khai tiết là chỉ phong tà xâm phạm vào cơ thể dễ làm tấu lý sơ tiết mà mở to.
  • Chính vì những đặc tính này mà phong là thường dễ dàng xâm nhập vào các bộ phận thuộc phần dương của cơ thể như nữa người trên, cơ biểu, lưng gáy để gây bệnh.
    • Ví dụ: phong tà phạm biểu, tấu ý khai tiết gây toát mồ hôi, sợ lạnh, phong tà theo kinh nhiễu loạn ở trên gây đau đầu, phong tà phạm Phế gây các chứng ngạt mũi, ngứa họng… Sách Tố Vấn – Thái âm dương minh luận viết: “Do phạm tặc phong hư tà nên phần dương bị bệnh” và “Do thương phong nên phần trên bị bệnh”.
    • Sách ‘Y Tông Kim Giám’ : trên trời là Phong, dưới đất là Mộc, ở người là Can… do đó, Can khí là Phong khí có liên hệ với nhau. Các bệnh về Phong khí, đều thuộc về Can.
      Đọc tiếp

HÁO SUYỄN – HEN SUYỄN – ASTHMA

HEN  SUYỄN

(Háo Suvễn – Asthma – Asthme)


ĐẠI CƯƠNG

Hen phế quản, Đông y gọi là là Háo suyễn, Chi Khí Quản Háo Suyễn, thuộc phạm vi chứng háo xuyễn đàm ẩm, biểu hiện đặc trưng là  khó thở, chủ yếu là khó thở ra, thở khò khè, có tiếng rít . Phát bệnh ở cả 4 mùa, nhưng nhiều nhất vào lúc lạnh, thời tiết thay đổi.

  • Sách ‘Y Học Chính Truyền’ định nghĩa: “Suyễn thì thở không to, háo thì thở có tiếng”.
  • Sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: “Thở gấp là suyễn, trong họng có tiếng kêu là háo”.
  • Tuy một vài sách đã tách Háo (hen) và Suyễn ra làm hai bệnh khác nhau, tuy nhiên, trên lâm sàng, hai bệnh này thường đi đôi với nhau, xuất hiện cùng lúc và là triệu chứng chính của bệnh hen suyễn, vì vậy, về nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh, biện chứng luận trị và phương pháp điều trị có thể dùng như nhau.
  • Chứng háo suyễn thường gặp trong các bệnh hen phế quản, phế quản viêm thể hen, phế khí thủng, tâm phế mạn (hen tim) và nhiều bệnh khác như phổi viêm, áp xe phổi, bụi phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Đọc tiếp

TỌA CỐT THẦN KINH THỐNG – TỌA CỐT PHONG

TỌA CỐT THẦN KINH THỐNG – TỌA CỐT PHONG

ĐẠI CƯƠNG

Đau dây thần kinh tọa là một hội chứng đau dọc theo dây thần kinh hông (đường vận hành ở chân và eo lưng của đường kinh Bàng quang, Đởm và Vị), do nhiều nguyên nhân cơ năng hoặc thực thể ở Bản thân dây thần kinh hoặc rễ thần kinh.
Thuộc phạm vi chứng “Tý” của YHCT với nhiều tên gọi khác nhau.
Đông Y từ lâu đã được đề cập đến chứng đau dây thần kinh hông dưới nhiều tên gọi khác nhau:

  • Sách Giáp Ất Kinh (năm 286) gọi là Yêu Liệt Thống (Hoàn khiêu trị yêu liệt thống, bất đắc chuyển trắc – Huyệt Hoàn khiêu trị chứng lưng đau yếu, hông sườn không xoay trở được), Yêu cước thống, Yêu hiếp thống. Hoàng Phủ Mật đời nhà Tấn (286) trong sách ‘Giáp Ất Kinh’ đã mô tả về chứng đau TK hông như sau: “Yêu hiếp thống dẫn thống cập bể cân” (từ lưng, hông sườn đau lan xuống gân vùng háng).
  • Thoái cổ phong (Hoàn khiêu năng trị Thoái cổ phong) [‘Biển Thước Thần Ứng Châm Cứu Ngọc Long Kinh] (đời nhà Nguyên 1311).
  • Yêu cước đông thống (Châm Cứu Đại Thành).
  • Yêu thống (Phú Tịch Hoàng). Đời nhà Minh, phú ‘Tịch Hoàng’ trong sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ (1601) ghi: “Ủy trung yêu thống, cước loạn cấp…” (Đau eo lưng đến vùng huyệt Ủy trung chân sau, chân co rút).
  • Yêu liệt thống (Thập Tứ Kinh Phát Huy).
  • Yêu thoái thống, Yêu cước thống, Tọa đồn phong, Tọa điến phong, Bệ cốt thống (Bịnh Nguyên Từ điển).
  • Sách ‘Châm Cứu Học Thượng Hải’ gọi là Tọa Cốt Thần Kinh Thống.
  • Sách ‘Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu’ ghi là Tọa đồn (Điến) phong.
  • Đa số các sách cổ đều xếp loại này vào chứng Tý.

Châm cứu điều trị chứng thần kinh tọa đau do nguyên nhân cơ năng, do ngoại tà (phong hàn…) thường có hiệu quả tốt nhưng với loại do nguyên nhân thực thể (thí dụ do lao, thoái vị hoặc lồi đĩa đệm, khối u..) thì rất ít hiệu quả.

NGUYÊN NHÂN
1. Ba nguyên nhân chính gây ra đau thần kinh hông là phong, hàn, thấp. Phong hàn, phong nhiệt hoặc thấp nhiệt xâm nhập vào kinh lạc (nhất là kinh Bàng quang và Đởm), làm cho kinh khí bị ngăn trở không thông, gây ra đau.

  • Hàn có tính làm ngưng trệ và co rút. Tính ngưng trệ làm cho khí huyết, kinh lạc đều ngưng trệ, huyết trệ nặng hơn thành huyết ứ. Có thể nhận định rằng: bản thân người bệnh có sẵn tình trạng ngưng trệ ở khí huyết, kinh lạ, lại gặp thêm ngoại tà như thời tiết lạnh (hàn tà) xâm nhập làm cho chân co duỗi khó khăn hoặc có từng điểm gân co rút, co giật. Hàn tà gây nên cảm giác nhức hoặc như dùi đâm…
  • Thấp tà có xu hướng phát triển từ dưới thấp trước, thường là từ bàn chân chuyển dần lên, nhưng trong bệnh này không có hiện tượng đó. Theo Đông y, vùng eo lưng trở xuống gọi là vùng đái mạch (đái mạch khu), vùng này đau thường liên hệ đến thấp, thấp tà ở vùng Đái hạ có liên quan với Tỳ (Tỳ chủ thấp). Thấp có thể do Tỳ hư, cũng có thể từ hàn sinh ra. Bắt đầu thì hàn sinh ra thấp, sau đó hợp với thấp làm thành hàn thấp. Hàn và thấp phát triển đến một mức độ nào đó cũng hóa ra nhiệt, gây cảm giác nóng ở chỗ đau, thấp hóa nhiệt thành thấp nhiệt.

Như vậy theo Đông Y chứng đau thần kinh hông bao gồm Hàn, Phong và Thấp, phong hàn là yếu tố quan trọng nhất.

2. Hoặc do ứ huyết (thoát vị địa đệm cột sống, chấn thương vùng thắt lưng cùng…) làm cho khí bị ngưng trệ gây đau (loại này khó khỏi hơn).

LÂM SÀNG

THỂ

TRIỆU CHỨNG

PHONG HÀN

(WIND-COLD SYNDROME)

  • Vùng thắt lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân đi lại khó khăn, cơ chưa bị teo, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Phù, hoặc Phù Khẩn. Thường gặp trong chứng đau dây thần kinh hông do lạnh.
  • Phong hàn xâm nhập đơn thuần kinh Đởm thì: Đau ngang thắt lưng – mông- mặt trước ngoài đùi-mặt trước ngoài cẳng chân, xuống bờ ngoài bàn chân, mu bàn chân và ngón cái (tương ứng với thể L5).
  • Phong hàn xâm nhập đơn thuần kinh Bàng quang thì: Đau ngang thắt lưng – mông – mặt sau đùi- mặt sau (tương ứng với thể S1)
  • Thường ấn đau ở  vùng lưng dưới (Đại Trường Du), mông (Hoàn Khiêu), nếp mông (Thừa Phò), kheo chân (Uỷ trung), mặt ngoài cẳng chân (Dương Lăng Tuyền), bắp chân (Thừa Sơn) và gót chân (Côn Lôn).

PHONG HÀN THẤP

(WIND-COLD-DAMP SYNDROME)

  • Đau vùng lưng, đùi, dọc theo mặt ngoài cẳng chân (kinh đởm), và sau khoeo (kinh Bàng quang). Khớp chân co duỗi, đi đứng khó, về đêm, gặp ngày lạnh mưa, thời tiết thay đổi thì thấy đau hơn.
  • Thường gặp trong thoái hóa cột sống
  • Da mát lạnh, chỗ đau thấy nhức như kim đâm, mạch Huyền Khẩn hoặc Trầm Trì, là dấu hiệu hàn tà nhiều hơn.
  • Đau ê ẩm, da mát nhưng có nhiều mồ hôi, lòng bàn chân khi có mồ hôi có cảm giác tê bì ở da, mạch nhu Hoãn là dấu hiệu của thấp tà nhiều hơn.
  • Nếu để lâu, Can Thận âm hư không nuôi dưỡng được gân cơ, có thể có teo cơ vùng mông và chi dưới.

THẤP NHIỆT

(DAMP-HEAT ACCUMULATION)

  • Thể này ít gặp
  • Lưng đau lan xuống mông, mặt sau đùi, cẳng chân, đi lại khó khăn, có cảm giác nóng ở các điểm đau, mạch Nhu hơi Sác. Đùi đau buốt, có cảm giác nóng, tiểu tiện vàng giắt, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác

Ứ HUYẾT

(BLOD STASIS SYNDROME)

  • Đau dữ dội như kim châm, dao cắt ở một điểm, lan xuống hai chân. Có điểm đau cố định, sờ vào đau tăng. Chất lưỡi tím, có điểm ứ huyết, mạch Sáp.
  • Nhìn ở phần nông thấy có lạc mạch mầu xanh, xanh thẫm hoặc tím ở vùng khoeo chân hoặc đùi. Ở phần sâu có cảm giác nhức buốt như dùi đâm ở vùng mông (vùng huyệt Hoàn khiêu), dọc theo đường kinh Bàng quang và Đởm, lưỡi có những vết bầm tím, mạch Nhu Sáp.
  • Thường gặp trong thoát vị địa đệm, chấn thương cột sống vùng thắt lưng cùng.


ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc tổng quát:

  • Thông kinh hoạt lạc: kinh lạc bị bế tắc gây ra đau, vì vậy, phải làm cho kinh lạc được thông thì hết đau (thông tắc bất thống).
  • Ôn: bệnh này đau chủ yếu do hàn, vì vậy phải dùng phép ôn để tán hàn.
  • Táo Thấp: Vì bệnh có thấp nên phải táo thấp và táo thấp cũng góp phần hỗ trợ việc thông kinh hoạt lạc.
  • Thư cân hoạt lạc: Bệnh có chứng trạng co rút, vì vậy phải làm cho gân cơ được giãn ra, kinh lạc được lưu thông.
  • Hoạt huyết, hóa ứ: Vì huyết ứ trệ, cần làm cho huyết lưu thông để chuyển hóa chỗ huyết bị ứ theo nguyên tắc ‘Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt’ (Chữa phong trước hết phải chữa huyết, huyết vận hành được thông thì phong tà sẽ tự hết).
  • Lý khí, chỉ thống: Khí trệ thì gây đau, dùng phép lý khí để cho khí được thông thì hết đau. Theo nguyên tắc ‘Khí vận hành đến đâu thì huyết vận hành đến đó’ (khí hành tắc huyết hành).
  • Thanh nhiệt, táo thấp: Trong trường hợp do thấp nhiệt.

CHÂM CỨU

  • Thông huyệt: Túc lâm khấp (Đ.41)
  • Hoa Đà giáp tích vùng thắt lưng L4-L5
  • Thông kinh hoạt lạc 2 kinh : Bàng quang và Đởm.
  • Kinh Bàng quang: Thận Du (Bq.23), Đại Trường Du (Bq.25), Trật Biên (Bq.54), Thừa Phù (Bq.36), Ân Môn (Bq.37), Ủy trung (Bq.40), Thừa sơn (Bq.57), Côn lôn (Bq.60).
  • Kinh Đởm: Hoàn khiêu (Đ.30), Phong thị (Đ.31), Dương lăng tuyền (Đ.34), Huyền Chung (Đ.39)
  • Thấp nhiều: Âm lăng tuyền (Ty.9), Túc tam lý (Vi.36), Thái bạch (Ty.3)
  • Hàn nhiều: Thận Du (Bq.23), Mệnh môn, Đại chùy (Đốc.14)
  • Huyết ứ: A thị huyệt, Cách du (Bq.17)
  • Huyệt khác: Thái xung (C.3) Can chủ cân, Dương lăng tuyền (Đ.34) thư cân hoạt lạc

Tham khảo:
1- Châm Cứu Học Thượng Hải : Sơ đạo kinh khí.
Châm Thận Du (Bq.23) + Bạch Hoàn Du (Bq.30) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Phù (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) .
Phối hợp với Giáp Tích eo lưng (L 2-5), Thượng Liêu (Bq.31) , Thứ Liêu (Bq.32), Trật Biên (Bq.54), Thừa Sơn (Bq.57), Côn Lôn (Bq.67) , Túc Lâm Khấp (Đ.44) và các A Thị huyệt.
Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, kích thích mạnh hoặc vừa, làm cho cảm giác tê truyền đi xa. Khi có cảm giác tê, trướng lan ra thắt lưng và chi dưới rồi thì lưu kim 20 – 30 phút hoặc lâu hơn, cách 3-5 phút lại vê kim 1 lần. Mỗi ngày hoặc 2 ngày trị 1 lần.

2- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Âm Thị (Vi.33) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Côn Lôn (Bq.67) + Thân Mạch (Bq.62) (Thần Ứng Kinh).

3- Uỷ Trung (Bq.40) + Nhân Trung (Đc.26) (Châm Cứu Đại Thành).

4- Thượng Liêu (Bq.31) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Hạ Cự Hư (Vi.39) (Phổ Tế Phương).

5- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Côn Lôn (Bq.67) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Dưỡng Lão (Ttr.6) [cứu] (Thần Cứu Kinh Luân).

6- Trật Biên ((Bq.54) + Đại Trường Du (Bq.25) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Ân Môn (Bq.37) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Huyền Chung (Đ.39) + Thừa Sơn (Bq.57) + Hoa Đà giáp tích vùng thắt lưng 4- 5 (L 4-5) (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).

7- Nhóm 1 : Trung Lữ Du (Bq.29) + Thận Du (Bq.23) + Thượng Liêu (Bq.31) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + UŒy Trung (Bq.40).
Nhóm 2 : Uỷ Trung (Bq.40) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) .
Nhóm 3 : Thừa Phò (Bq.36) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Phong Thị (Đ.31) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) .
Nhóm 4 : Trật Biên (Bq.54) + Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên Du (Bq.26) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) .
Nhóm 5 : Yêu Dương Quan (Đc.2) + Thận Du (Bq.23) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Túc Tam Lý (Vi.36) + UŒy Trung (Bq.40).
Nhóm 6 : Bàng Quang Du (Bq.28) + Thận Du (Bq.23) + Đại Trường Du (Bq.25) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Túc Tam Lý (Vi.36) (Châm Cứu Học Giản Biên).

8- Thượng Liêu (Bq.31) + Thứ Liêu (Bq.32) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Trật Biên (Bq.54) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Phi Dương (Bq.58) + Tuyệt Cốt (Đ.39) + Khâu Khư (Đ.40) + Côn Lôn (Bq.67) (Châm Cứu Trị Liệu Học).

9- Bát Liêu + Thừa Phò (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Tất Nhãn + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Dương Phụ (Bq.38) + Thái Bạch (Ty.3) + Đại Đô (Ty.2) + Chí Âm (Bq.67) + Thông Cốc (Bq.66) (Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học).

10- Thông kinh hoạt lạc : Châm Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thái Xung (C.3) + Đại Trường Du (Bq.25) + Thừa Phò (Bq.36) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) + Côn Lôn (Bq.67) (Châm Cứu Học Việt Nam).

11- Dò tìm ở bụng dưới, vùng giữa (ngang nếp háng), ấn theo hướng đi xuống phía dưới, người bịnh kêu đau ở đâu, đó là điểm Thần kinh tọa. Châm kim vào, sâu 5 cm, hơi hướng kim ra phía ngoài ( Hiện Đại Châm Cứu Trị Liệu Lục).

12- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) . Phối hợp với Thận Du (Bq.23), Đại Trường Du (Bq.25), Bát Liêu (đau vùng lưng), hoặc Thừa Phò (Bq.36), Phong Thị (Đ.31), Ân Môn (Bq.37), Phục Thố (Vi.32), Uỷ Trung (Bq.40), Túc Tam Lý (Vi.36), Thừa Sơn (Bq.57), Tuyệt Cốt (Đ.39), Côn Lôn (Bq.67) (nếu chi dưới đau) – (‘Phúc Kiến Trung Y Dược’ năm 1959).

13- Huyệt chính : Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) +Uỷ Trung (Bq.40) + Phong Thị (Đ.31) + Thận Du (Bq.23) + Côn Lôn (Bq.67) + Tuyệt Cốt (Đ.38) + Đại Trường Du (Bq.25).
Huyệt Phụ: Thừa Phò (Bq.36) + Thừa Sơn (Bq.57) + Yêu Du (Đc.3) + Bát Liêu + Hiệp Khê (Đ.43) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tân Kiện ( ‘Trung Y Tạp chí’ năm 1955).

14- Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Phò (Bq.36) + Phong Thị (Đ.31) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thừa Sơn (Bq.57) + Huyền Chung (Đ.39) + Côn Lôn (Bq.67) + Khâu Khư (Đ.40) ( ‘Trường Xuân Trung Y Học Viện Học Báo’ (1) – 24/ 1986).

15- Đại Trường Du (Bq.25) + Thừa Phò (Bq.36) + Ân Môn (Bq.37) + Uỷ Trung (Bq.40) + Thừa Sơn (Bq.57) (‘Giang Tây Trung Y Dược’ số 39/1986).

16- Dùng điện châm Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) xuyên Âm Lăng Tuyền (Ty.9) (‘Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí’ số 18/1986).

17- Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thừa Sơn (Bq.57) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thận Du (Bq.23) + Ân Môn (Bq.37) + Tuyệt Cốt (Đ.39). Huyệt Hoàn Khiêu, Trật Biên, Dương Lăng Tuyền và Thận Du dùng bổ pháp, các huyệt còn lại châm tả ) (‘Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí’ (6) – 8/1986).

18- Hoàn Khiêu (Đ.30) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Trật Biên (Bq.54) + Uỷ Trung (Bq.40) (‘Cát Lâm Trung Y Dược’ số 27/1985).

19- Túc Tam Lý (Vi.36) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Huyền Chung (Đ.39) + Dương Phụ (Đ.38) + Giải Khê (Vi.41) + Thái Xung (C.3) + Khâu Khư (Đ.40) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Ân Môn (Bq.37) + Trật Biên (Bq.54) (‘Trung Quốc Châm Cứu Tạp chí’ số 38/1986).

20- Sơ kinh, hoạt lạc. Châm tả Đại Trường Du (Bq.25) + Trật Biên (Bq.54) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Uỷ Trung (Bq.40) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Tuyệt Cốt (Bq.39) + Côn Lôn (Bq.67) (Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn).

CÒN TIẾP…

ĐAU THẦN KINH TỌA (SCIATICA NERVE PAIN)

ĐAU THẦN KINH TỌA

(Sciatica Nerve Pain)

I.ĐẠI CƯƠNG

  • Sách ‘Bách Khoa Thư Bệnh Học’ ghi: “Đau dây thần kinh hông là chứng đau ở rễ thần kinh thắt lưng V và cùng I với đặc tính đau lan theo đường đi của dây thần kinh hông”.
  • Năm 1764, Sigwald và Dereux là hai người đầu tiên mô tả hội chứng đau dây thần kinh hông do thoái vị đĩa đệm vùng thắt lưng.
  • Năm 1911, Goldwait J. E, Middleton và Teacher tách chứng đau dây thần kinh hông do thoái vị đĩa đệm thành một loại riêng.
  • Năm 1914, Lasègue C.E, Brissand E, Déjerine J J chứng minh đau dây thần kinh hông là bệnh đau ở rễ chứ không phải đau ở dây.
  • Từ 1939 có hàng loạt công trình nghiên cứu về dây thần kinh hông của Glorieux (1937), Bergonignan và Gaillen (1939).
  • Từ năm 1940, sau thông báo của Mixter và Barr, các nhà phẫu thuật chỉnh hình khi mổ các trường hợp đau dây thần kinh hông (trước đây cho là thấp khớp) đều thấy có thoái vị đĩa đệm.

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30-60, nam nhiều hơn nữ (tỉ lệ 3/1).nhất là những người lao động chân tay nặng nhọc. Các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, ba-lê, cử tạ… làm tăng nguy cơ xuất hiện và tái chứng đau thần kinh tọa.

Là một hội chứng khá phổ biến trong thần kinh. Nguyên nhân 80% là do thoát vị đĩa đệm, sau đó là do viêm nhiễm. Bệnh không phân biệt tuổi hay gặp ở người lao động nặng,vận động viên thể thao, nam nhiều hơn nữ. Điều trị bằng thuốc, vật lý trị liệu hay giải phẫu khi có chỉ định.

II.NGUYÊN NHÂN

1-Do Thoái vị đĩa đệm (60 – 90%, theo nhiều tác giả, 75% theo Castagne B, 60 – 80% theo V. Fattarusse – O. Rittes, 50% theo bệnh viện Thiên Tân (TQ) và bệnh viện Giao thông Thạch gia (TQ).

2-Thoái hóa cột sống thắt lưng cùng

3-Trượt đốt sống (Spondylolisthesis – Lumbar Vertebral Slippage): L4 hoặc L5 bị trượt ra phía trước trên đốt sống kê phía dưới (thường do bẩm sinh) do một chỗ khuyết của co nối liền các mỏm khớp trên và dưới.


Spondylolisthesis - Lumbar Vertebral Slippage

4-Viêm cột sống (spondylitis)

5-Viêm cột sống dính khớp: bệnh của phái nam tuổi trẻ (90%) có đặc điểm là những viêm khớp liên đốt sống làm cho cứng khớp đốt sống hoàn toàn và cứng gần như hoàn toàn khớp ở gốc tứ chi với sự nguyên vẹn của khớp xương nhỏ (trên Xquang thấy có hình dạng thân cây tre khi các dây chằng bị vôi hóa). Thay đổi bệnh lý ở TL4, TL5, ở khớp cùng chậu làm đau dây thần kinh hông.


Các giai đoạn của viêm cột sống dính khớp

6-Chấn thương vùng cột sống thắt lưng cùng

7-Lao cột sống (Bệnh Pott): có phá hủy đốt sống và có thể gây đau dây thần kinh hông cả hai bên (trên X-quang thấy dấu hiệu đốt sống bị xẹp, bị phá hủy).

8-Hẹp đốt sống (Spinal Stenosis) và hẹp ống sống (Spinal Canal  Stenosis-Narrowing of the spinal canal)

The MRI above shows the spinal canal narrowing at the point of the two white arrows. The fluid in the canal narrows as a result of spinal stenosis.

The MRI above shows the spinal canal narrowing at the point of the two white arrows. The fluid in the canal narrows as a result of "spinal stenosis".

6-Bệnh Paget (viêm xương biến dạng) (Paget’ s disease of bone (osteitis deformans)) gây phì đại cuống xương đốt sống, xẹp đốt sống, hẹp ống sống dẫn đến chèn ép một hoặc nhiều rễ.

7-Các khối u

  • U nguyên phát: U màng tủy, u đốt sống, u thần kinh
  • U thứ phát hay u di căn: di căn từ các ung thư biểu mô (tuyến tiền liệt, vú, phổi, thận, đường tiêu hóa), bệnh đa u tủy xương, u lympho (hodgkin hoặc không hodgkin)

8-Có thai.

TRIỆU CHỨNG

  1. Đau
  2. Cảm giác
  3. Vận động
  4. Phản xạ gân xương
  5. Triệu chứng tại cột sống
  6. Các nghiệm pháp

1.TRIỆU CHỨNG ĐAU

+ Yếu tố cơ học: Đau thường xuất hiện sau một động tác gắng sức như khuân vác vật nặng, té ngã, chấn thương.

+ Vùng đau: Đau vùng thắt lưng L4, L5, S1

+ Hướng lan của đau: Cảm giác đau thắt lưng lan dọc xuống chi dưới hay hai bên

Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương: Đau ngang thắt lưng – mông – mặt trước ngoài đùi – mặt trước ngoài cẳng chân – bờ ngoài bàn chân – mu bàn chân – đến ngón cái.

Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương: Đau ngang thắt lưng – mông – mặt sau đùi – mặt sau cẳng chân – gót chân – gan bàn chân – đến ngón út

+ Cường độ đau:

  • Cường độ đau thay đổi đau từng cơn hoặc liên tục, âm ỉ, hoặc không bớt khi nghỉ, đôi khi rất mạnh.
  • Đau nhẹ: ít ảnh hưởng đến sinh hoạt, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường cúi xuống đau. Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát.
  • Đau vừa: đau tăng khi đi lại, xách cái ghế cũng đau, xoay trở người gây đau,
  • Đau nặng: Nếu đau nhiều thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi, đi đại tiện rặn cũng đau.
  • Đau dữ dội: hạn chế vận động nhiều, phải nằm tại giường, nằm yên không dám động đậy.

+ Yếu tố thuận lợi:

  • Đau tăng khi đứng lên, ngồi lâu, khi ho, hắt hơi.
  • Đau giảm khi nằm yên trên giường cứng, khi co gối (tư thế này làm chùng dây thần kinh hông).
  • Tăng lên lúc nửa đêm về sáng, tăng khi gặp trời lạnh, mưa.

+ Thời gian khởi đầu đau:

  • Bắt đầu đau thần kinh tọa ngay hoặc đau lưng trước. Đau thần kinh hông thường kèm theo đau lưng trong tiền sử gần hoặc xa.
  • Mới đau: vài ngày đến vài tháng.
  • Dai dẳng: từ nhiều tháng.
  • Cố tật: trên một năm.

+ Diễn tiến bệnh trạng:

  • Đau giảm dần: gặp trong thoái vị đĩa đệm.
  • Đau ngày càng tăng: trong lao cột sống, ung thư đốt sống, u tủy…
  • Tái phát là bằng chứng có giá trị của thoát vị đĩa đệm.

+ Phối hợp:

  • Nếu có rối loạn cơ tròn, nên nghĩ đến hội chứng TK đuôi ngựa. Một số bệnh nhân bị đau ở hạ bộ và đau khi đại tiểu tiện do tổn thương rộng xâm phạm các rễ thuộc đám rối thần kinh đuôi ngựa.

Bảng Phân Chia Mức Độ Nặng Nhẹ của Đau Dây Thần Kinh Hông

Triệu Chứng

Nặng

Vừa

Nhẹ

Đau

Rất đau, có vẹo cột sống

Mạnh, có thể vẹo cột sống

Nhẹ, không vẹo cột sống

Lasègue

200

450

750

Vận động

Không cúi được, chân không duỗi thẳng được, ngồi đứng khó khăn

Không ngồi đứng lâu được

Vận động được không bị hạn chế

Lao động

Không cử động được hoặc hạn chế tối đa cử động, bệnh nhân nằm yên

Không làm việc hằng ngày được

Làm việc được

2.TRIỆU CHỨNG VỀ CẢM GIÁC

  • Có thể kèm theo dị cảm (tê nóng, đau như dao đâm, cảm giác kiến bò bên chi đau) theo vị trí phân bố cảm giác của dây thần kinh.
  • Có thể có giảm cảm giác ở vị trí do rễ dây thần kinh L5 hoặc S1 chi phốiTổn thương L5: mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mu chân và ngón cái, đôi khi là cả ngón 2 và 3.

    Tổn thương S1: mặt sau đùi, phần sau hoặc sau ngoài cẳng chân, bờ ngoài bàn chân và 2-3 ngón chân cuối.

3.TRIỆU CHỨNG VỀ VẬN ĐỘNG-DINH DƯỠNG

-Cơ bắp chân nhão, ấn mạnh vào gân Achilles, bên đau lõm nhiều hơn bên lành.

-Yếu cơ: tuỳ theo rễ tổn thương.

  • Rễ L5: Yếu cơ cẳng chân trước, cơ duỗi các ngón chân, bệnh nhân không đứng bằng gót được, không đi được bằng gót chân và bàn chân rơi (called foot drop). Yếu động tác gấp mu bàn chân và gấp ngón cái.
  • Rễ S1: Yếu cơ mặt sau cẳng chân, bệnh nhân không tự đứng bằng ngón được, không đi được bằng ngón chân (weakness that results in difficulty raising the heel off the ground or walking on the tiptoes). Yếu động tác duỗi bàn chân và duỗi ngón cái.

-Rối loạn dinh dưỡng (có thể teo cơ – ở giai đoạn muộn)

  • Rễ L5: Teo nhóm cơ cẳng chân trước ngoài, các cơ mu chân
  • Rễ S1: Teo cơ bắp cẳng chân, cơ gan bàn chân

4.PHẢN XẠ GÂN XƯƠNG

  • Phản xạ gân gót mất hoặc giảm trong tổn thương S1
  • Phản xạ gân gót bình thường, không thay đổi trong tổn thương L5

5.TRIỆU CHỨNG TẠI CỘT SỐNG

  1. Co cơ cạnh sống: là phản ứng tự vệ chống lại đau.
  2. Nếp mông bên bệnh xệ thấp hơn so với bên lành (do nhão cơ) khi bệnh nhân đứng
  3. Biến dạng cột sống, mất đường cong sinh lý do đau, tư thế đứng:Theo chiều trước sau: Mất đường cong sinh lý hoặc đảo ngược đường cong sinh lý, gù chống đau, tương ứng với thoát vị đĩa đệm ra phía sau, cản trở sự khép lại của khoảng gian đốt.

    Theo chiều nghiêng: Vẹo cột sống tư thế: Vẹo chống đau hoặc về phía bên đau (tư thế chống đau thẳng), liên hệ với rễ thắt lưng hoặc về phía bên lành (tư thế chống đau chéo) liên hệ với rễ cùng I.

  4. Dấu hiệu nghẽn của De Sège để chống đau: người bệnh đứng nghiêng người sang bên trái, sang phải, phía không có tư thế chống đau là phía bị nghẽn (còn gọi là dấu hiệu nghẽn khúc đường gai sông).
  5. Dấu ấn chuông: Ấn ngang gai sống L4-L5 hoặc L5-S1 (ấn cạnh cột sống 2cm) có thể là đau sẽ gây đau khu trú – tại chỗ hoặc đau chạy dọc đường đi của dây thần kinh.
  6. Điểm Valleix: đây là nơi dây thần kinh tọa đi gần xương, đè vào sẽ gây đau theo rễ. 60% có ấn đau ở các điểm dây thần kinh hông xuất ra (rãnh mấu chuyển – ụ ngồi (huyệt Thừa phò), khoeo chân (huyệt Ủy trung), bắp chân (huyệt thừa sơn)…

6.CÁC NGHIỆM PHÁP

Ta có thể gây cảm giác đau bằng cách làm căng thần kinh tọa hoặc làm tăng áp lực DNT, nhờ các nghiệm pháp và dấu hiệu sau: Các dấu hiệu đau khi làm căng dây thần kinh hông, đặc trưng của đau do rễ.

1-Nghiệm pháp Lasègue: người bệnh nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, bàn tay thầy thuốc đỡ gót chân người bệnh rồi từ từ nâng chân lên khỏi mặt giường. Bình thường có thể nâng lên một góc 70-90 độ so với mặt giường. Nếu đau dây thần kinh hông, chỉ nâng lên một góc nào đó (thí dụ 150, 300, 400…) người bệnh sẽ thấy đau từ mông xuống đùi và phải gấp đầu gối lại. Lasègue dương tính khi mức độ nâng <=70 độ. Mức nâng càng nhỏ mức độ càng nặng. Đây là dấu hiệu rất quan trọng gần như lúc nào cũng có và còn dùng để theo dõi diễn tiến điều trị.

2-Nghiệm pháp Bonnet: bệnh nhân nằm ngửa gập gối về phía bụng và xoay khớp háng vào trong, người bệnh thấy đau ở mông, là dấu hiệu Bonnet dương tính.

3-Nghiệm pháp Néri:

Người bệnh ngồi trên giường, hai chân duỗi thẳng, cúi xuống, hai ngón tay trỏ sờ vào 2 ngón chân cái, thấy đau ở lưng mông và phải gập gối lại mới sờ được ngón chân (Néri dương tính).

Hoặc bệnh nhân đứng thẳng, giữ thẳng 2 gối, từ từ cúi gập người chạm 2 tay xuống đất, bệnh nhân đau nên gập gối bên đau và không thể thực hiện được động tác này.

4-Nghiệm pháp Naffziger: đè 2 bên tĩnh mạch cổ bệnh nhân kêu thốn ở cột sống lan tới chân. Có thể phối hợp bằng cách bảo bệnh nhân ho. Nghiệm pháp này làm tăng áp lực dịch não tủy chèn ép rễ thần kinh hông gây nên đau.

Ba dấu hiệu Lasegue, Néri, và Bonnet tuy cách làm khác nhau nhưng cùng mục đích là làm căng dây thần kinh hông gây nên đau, là đặc trưng của đau do rễ.

IV.ĐIỀU TRỊ:

Việc điều trị đau thần kinh tọa phải kết hợp các biện pháp nội khoa, đông y, ngoại khoa, tâm lý, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng

1.Điều trị nội khoa:

- Trong thời gian đang đau cấp, hoặc đợt cấp của đau thần kinh tọa mãn. Bệnh nhân cần có chế độ bất động, nằm nghỉ ngơi, tránh gắng sức, tránh mọi di chuyển hoặc thay đổi tư thế làm căng dây thần kinh, hạn chế đi lại nhiều. Người bệnh cần nằm trên giường phẳng và cứng, nằm ngửa, hông và gối hơi gấp, nếu đau nhiều có thể nằm co chân.

Những khuyến cáo gần đây là nên cho vận động sớm ngay khi đau giảm tùy theo cảm nhận của bệnh nhân nhằm tăng khả năng của cơ cột sống, tránh teo cơ và rối loạn dinh dưỡng. Cũng có thể kết hợp vật lý liệu pháp: dùng nhiệt, xoa nắn chỉnh hình, điện xung, sóng ngắn, châm cứu, kéo giãn cột sống.

-Thuốc giảm đau:

  • Nidal 01viên x 02 lần/ ngày,
  • Paracetamol 0.5g 01viên x 03 lần/ ngày,
  • Di-antalvic 01viên x 03 lần/ ngày,
  • Efferalgan 01viên x 03 lần/ ngày

-Thuốc kháng viêm Non Steroide: Thuốc chống viêm giảm đau không steroid có thể dùng dạng tiêm giai đoạn cấp, sau đó thay bằng đường uống trong vòng 2-3 tuần. Có thể sử dụng một trong các loại sau:

  • Diclofenac 50mg 01viên x 03 lần/ ngày,
  • Nimesulid 0.1g 01viên x 02 lần/ ngày,
  • Piclocecam 0.2g 01viên x 03 lần/ ngày,
  • Tenoxicam 0.02g 01viên x 02 lần/ ngày,
  • Melocecam 0.06g 01viên x 02 lần/ ngày,
  • Ibuprofen 0.2-0.6g 01viên x 03 lần/ ngày,
  • Celecoxib 0.1g 01viên x 02 lần/ ngày,
  • Rofecoxib 0.025-0.05g 01viên x 02 lần/ ngày.

-Thuốc kháng viêm Steroide: Có thể sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với kháng viên Non Steroide. Có thể sử dụng một trong các loại sau:

  • Prednison 0.005g 01-02viênx 03 lần/ ngày,
  • Dexamethason 0.5mg 01-02viênx 03 lần/ ngày.

Tiêm corticoid ngoài màng cứng được áp dụng từ hơn 50 năm nay, tuy nhiên, khi theo dõi lâu dài một số nghiên cứu nhận thấy phương pháp này không hơn gì phương pháp giả dược khi đánh giá về tác dụng giảm đau và tỷ lệ bệnh nhân phải phẫu thuật.

-Thuốc giãn cơ: Thuốc giãn cơ dùng khi có co cứng cơ cạnh cột sống. Dùng sau bữa ăn, thận trọng cho người có bệnh lý dạ dày – tá tràng, trẻ em và người già (do hệ thống cơ vân yếu). Không dùng cho bệnh nhân có bệnh nhược cơ. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có thể dùng thuốc giãn cơ vân kéo dài tới cả tháng.Có thể sử dụng một trong các loại sau:

  • Decontractyl 0.25g 02viênx 03 lần/ ngày,
  • Mydocalm 01viênx 03 lần/ ngày,
  • Sirdalud 01viênx 02 lần/ ngày,
  • Contramyl 01viênx 02 lần/ ngày,
  • Diazepam 0.005g 01 viên uống buồi tối trước khi ngủ.

-Vitamin nhóm B: B1, B6, B12 là các vitamin có vai trò quan trọng trong chuyển hóa của tế bào nói chung, nhất là tế bào thần kinh và bao myelin tuy nhiên cũng nên dùng theo chỉ định của thầy thuốc, không nên coi nó là thuốc bổ mà lạm dụng. Hiện nay hay dùng dạng hỗn hợp 3 loại vitamin B.

-Các thuốc có tác dụng tăng dẫn truyền thần kinh ngoại vi như galantamine. Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế men cholinesterase (men phân hủy acethyl cholin ở khớp – xinap thần kinh). Chỉ định cho các trường hợp đau thần kinh hông to đã có ảnh hưởng tới chức năng của dây thần kinh. Các tác dụng phụ có thể thấy là choáng váng, đau bụng, buồn nôn. Nên dùng liều thấp rồi tăng dần.

2.Điều trị ngoại khoa:

Phẫu thuật: Chỉ định phẫu thuật trong các trường hợp sau:

  • Đau ngày một nặng dần, đau rất nhiều, liên tục, không giảm khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc giảm đau
  • Đau thần kinh tọa thể liệt chân có biểu hiện liệt hay yếu một phần hay toàn bộ cơ lực của các nhóm cơ mà do các rễ thần kinh chi phối.
  • Mất phản xạ gân gót luôn luôn tồn tại trong thể liệt nặng, nhưng nếu chỉ mất phản xạ gân gót đơn độc mà không kèm với liệt vận động thì không phải là một dấu hiệu của sự nặng bệnh và triệu chứng đó thường tồn tại cả sau khi đã hết đau.
  • Có hội chứng đuôi ngựa: thường gặp trong đau rễ L5 (khối thoát vị lớn, thể trung tâm) biểu hiện bằng rối loạn cơ tròn (bí hay đại tiểu tiện không tự chủ); đau thần kinh tọa kiểu nhiều rễ và hai bên; giảm hay mất cảm giác vùng yên ngựa (vùng tầng sinh môn); mất phản xạ gân gót.
  • Đau tái phát nhiều lần, điều trị nội khoa đúng phương pháp trên 6 tháng mà không có kết quả.

Điều trị can thiệp: Kỹ thuật tiêm trực tiếp vào đĩa đệm làm tiêu nhân nhày bằng Chymopapaine, gần đây kỹ thuật này rất ít sử dụng do tai biến nhiều (dị ứng, vôi hóa đĩa đệm). Phương pháp làm giảm áp đĩa đệm bằng laser và lấy nhân nhày qua da bằng tay. Gần đây điều trị thoát vị đĩa đệm bằng sóng có tần số radio cũng bắt đầu được thực hiện ở nước ta.

Kỹ thuật mổ nội soi ít xâm lấn được áp dụng trong những năm gần đây và ngày càng phát triển vì tính chất ưu việt của phương pháp: ít xâm lấn, ít gây tổn thương tổ chức, đặc biệt là giảm nguy cơ xơ hóa sau phẫu thuật.

Phương pháp điều trị phẫu thuật cho tỷ lệ thành công khá cao: từ 70-90% các truờng hợp tùy theo các phương pháp phẫu thuật. Triệu chứng đau kiểu rễ thần kinh thường biến mất sau mổ nhưng triệu chứng đau thắt lưng có thể tồn tại kéo dài.


Magnetic resonance image before the treatment: the disc visibly lost a lot of its height and its shock absorbing skills.


Check-up image three months after the endoscopic removal: the hernia has been removed, the disc visibly recovered and gained back height and shock absorbing skills

Tóm lại: Phần lớn các trường hợp đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm có thể điều trị khỏi bằng phương pháp nội khoa bảo tồn. Chỉ có khoảng 20 % các trường hợp phải điều trị can thiệp và phẫu thuật. Kết quả điều trị phẫu thuật phụ thuộc vào sự đúng đắn của chỉ định phẫu thuật và độ chính xác của phương pháp phẫu thuật. Trong tương lai, chúng ta ngày càng có các phương pháp điều trị hiệu quả hơn và ít gây tổn thương hơn cho loại bệnh lý này.

3.Có thể phối hợp với điều trị vật lý trị liệu

PHÒNG BỆNH

Để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống. Người bị đau thắt lưng tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức như golf, bóng chuyền, tennis, vác balô nặng. Không nên nằm đệm quá dày và mềm, giường lò xo.

Các động tác sinh hoạt, lao động hằng ngày phải thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang vác… hay nhấc vật nặng. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Để tránh khom lưng, khi đọc và viết lâu, nên ngồi gần bàn viết, ghế không quá cao hoặc bàn viết không quá thấp. Nếu phải ngồi lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ.

Trong lao động chân tay, cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng; hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không bao giờ mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Khi muốn nhấc một vật nặng lên, nên co đùi gấp gối đôi chân gập lại vừa phải nhưng vẫn giữ lưng thẳng. Không nên giữ thẳng hai chân và cúi cong người xuống khi nhấc.

Theo Hội sản khoa Mỹ, có một số cách đơn giản có thể giúp cho bà bầu giảm đau dây thần kinh tọa trong khi mang thai, bao gồm:

- Khi nằm nghỉ ngơi, nên nằm nghiêng sang bên không bị đau;

- Không nên cố đứng trong thời gian quá lâu; nếu trong trường hợp bắt buộc phải đứng thì nên đứng trên một chân và thay đổi chân đứng thường xuyên;

- Không nên nhấc những đồ vật nặng trong khi mang bầu;

- Có thể tập luyện bơi thích hợp;

Ngoài ra cũng có thể chườm nóng hoặc chườm lạnh vào vùng đau.