ĐÔNG Y (Y HỌC CỔ TRUYỀN)
Just another WordPress.com weblog

Tháng 12
19

Hải thượng lãn Ông – Lê Hữu Trác
Nhà đại danh y dân tộc, nhà khoa học lớn,
Ðồng thời là nhà tư tưởng, nhà văn lỗi lạc của nước ta ở thế kỷ thứ XVIII

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. Là người con thứ bảy nên ông còn được gọi là cậu Chiêu Bảy.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.

Lê Hữu Trác xuất thân từ một gia đình (ông, cha, chú, bác, anh, em) đều học giỏi, đỗ cao, làm quan to của thời vua Lê chúa Trịnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ đệ tam giáp tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Dụ Tôn tới bậc thượng thư. Mẹ là Bùi Thị Thưởng quê ở xứ Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Biệt hiệu Hải Thượng do hai chữ đầu tiên tỉnh (Hải Dương) và tên phủ (Thượng Hồng), nhưng cũng có thể do chữ Bầu thượng là quê mẹ và là nơi Hải Thượng ở lâu nhất, từ năm 26 tuổi đến khi mất. Hải Thượng Lãn Ông có nghĩa là ông lười ở Hải Thượng. Nhưng thực tế chúng ta sẽ thấy lười ở đây là lười với công danh phú quý nhưng rất chăm chỉ đối với sự nghiệp chữa bệnh cứu người.

Read the rest of this entry »

Tháng 12
19

Y HẢI CẦU NGUYÊN

HẢI THƯỢNG Y TÔNG TÂM LĨNH


THIÊN THỨ 5

TẠNG PHỦ

(52 chương)

8.Tỳ là căn bản của 5 tạng, thận là nguồn sinh hóa của 5 tạng.

16.Thận hư không thể hóa được thức ăn, ví như nước với gạo trong nồi mà dưới nồi không có lửa thì làm sao mà chín được cơm.

  • Vị nhận thủy cốc ở trung tiêu, ví như cái nồi, phải nhờ tướng hỏa ở hạ tiêu để làm lửa nấu dưới nồi. Trong sách có nói: “Kinh túc thái âm Tỳ bị hư nên bổ cho kinh túc thiếu âm thận để sinh hóa nó”. Phàm chứng muốn ăn mà ăn không được, ăn được mà không tiêu hóa là do mệnh môn hỏa suy.

18.Vị lành quá thì sinh ra nôn mửa, nóng quá thì sinh ra sợ.

  • Trong vị không có hỏa thì thu nạp sao được, sẽ sinh đối kháng mà nôn mửa. Trong vị có hỏa thịnh thì ngược lại tổn thương thận khí (hỏa thịnh thì sinh thổ vượng mà khắc thủy). Thận chủ về sợ do đó mà sinh ra sợ.

21.Vị là nguồn của phần vệ, Tỳ là gốc của phần vinh.

  • Vị chủ dương khí hậu thiên, Tỳ chủ âm huyết hậu thiên, cho nên thanh khí của thủy cốc là phần vinh, hãm khí của thủy cốc là phần vệ, vì thế vệ thuộc dương chủ khí, vinh thuộc âm chủ huyết.

22.Tỳ ưa táo ghét thấp, Vị ưa thấp ghét táo.

  • Tỳ thuộc thái âm, thuộc kỷ là âm thổ nên ưa táo, Vị thuốc dương minh, thuộc mậu là dương thổ nên ghét táo.

24.Can hỏa lấn lên trên là do Thận âm kém.

  • Vì Ất với Quý cùng một nguồn (Ất Quý đồng nguyên) cho nên Can với Thận thường chữa chung. Can có lôi hỏa, Thận có chân thủy, thủy không kiềm chế được hỏa , vì thủy kém nên thấy hỏa lấn lên trên.

26.Vị đầy đủ thì phần Vệ chắc chắn.

  • Vị là dương khí của hậu thiên, là bể của thủy cốc, là nguồn của vệ khí. Nội kinh nói: “được khí của ngũ cốc thì mạnh”. Khí của ngũ cốc thịnh thì vệ khí đầy mà dương khí chắc chắn. Vệ khí tức là dương khí.

27.Tâm biết việc tương lai, thận nhớ điều dĩ vãng, chứng hay quên là do tâm thận bất giao.

Read the rest of this entry »

Tháng 12
05

CHỨNG CAN ÂM HƯ

Chẩn đoán phân biệt chứng Hậu trong đông Y

Viện nghiên cứu trung Y chủ biên

I.KHÁI NIỆM

Chứng Can âm hư là một nhóm chứng trạng do âm huyết của Can bất túc, mất sự nhu nhuận, gân mạch không được nuôi dưỡng, hoặc âm không chế dương, hư nhiệt từ trong sinh ra gây nên bệnh. Phần nhiều do mất huyết quá nhiều, ốm lâu hao tổn Can âm gây nên hoặc vì tính khí không thoả mãn, Can uất kéo dài, khí uất hoá hoả, hoặc bệnh mãn tính, bệnh ôn nhiệt dẫn đến hao thương can âm mà sinh ra bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau đầu, chóng mặt, mắt khô, sợ ánh sáng, hai mắt tối xầm, quáng gà, ù tai, đau sườn, tâm phiền hay cáu giận, móng tay chân không nhuận hoặc bắp thịt máy động, thậm chí vùng mặt có cảm giác nóng bừng, miệng ráo họng khô, gò má và môi đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, mất ngủ hay mê, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Huyền Tế Sác. Phụ nữ có thể có chứng trạng hành kinh muộn, lượng ít hoặc bế kinh.

Cơ chế bệnh sinh: Chứng can âm hư có triệu chứng thường thấy của chứng âm hư và triệu chứng riêng của can:

*  Chứng âm hư như hoả bốc lên thì mặt nóng bừng, hư nhiệt sinh ra ở trong thì triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, hư hoả nhiễu dinh thì sinh đạo hãn, tự hãn, âm dịch suy hao không nhuận lên trên được thì họng khô, âm hư nội nhiệt thì lưỡi đỏ ít rêu.

*  Chứng can âm hư liên quan đến thận âm, không tư nhuận cho đầu mặt nên chóng mặt ù tai, 2 mắt khô sáp. Hư hoả đốt nóng can lạc cho nên xương sườn cụt đau, nóng. Can âm suy hư gân mạch mất nuôi dưỡng cho nên tay chân nhu động. Mạch huyền thuộc can, tế thuộc âm hư, sác là có nhiệt, cho nên mạch huyền tế sác là can âm bất túc, hư nhiệt đốt ở trong.

Chứng Can âm hư thường gặp trong các bệnh Hiếp thống, Huyễn vậng, Đầu thống, Hư lao, Nội thương phát nhiệt, Hãn chứng, Bất mị, Bạch tình sáp thống, Thanh manh, Cao phong tước mục và kinh nguyệt muộn, bế kinh, băng lậu…

Chẩn đoán phân biệt với các chứng Thận âm hư, chứng âm hư dương cang, chứng Can hỏa thượng viêm, chứng Can Thận âm hư.

II.PHÂN TÍCH

  • Trong bệnh Hiếp thống (Đau sườn) xuất hiện chứng Can âm hư có đặc điểm là đau sườn âm ỉ, dai dẳng không dứt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế Sác, đó là âm huyết của Can bất túc, không nuôi dưỡng được kinh mạch mà thành bệnh. Mục Hiếp thống luận sách Kim quỹ dực có nói: “Nói Can hư tức là nói Can âm hư, âm hư thì mạch đi gấp gáp, mạch của Can qua Cách và giải ra ở liên sườn, âm hư huyết ráo thì kinh mạch mất sự nuôi dưỡng gây nên đau”. Điều trị nên dưỡng âm nhu Can, dùng bài Nhất quán tiễn (Liễu châu y thoại).

Read the rest of this entry »

Tháng 12
03

CHỨNG CAN HUYẾT HƯ

Chẩn đoán phân biệt chứng Hậu trong đông Y

Viện nghiên cứu trung Y chủ biên

I.KHÁI NIỆM

Chứng Can huyết hư là tên gọi khái quát cho những chứng trạng do Can huyết bất túc, gân mạch mất nuôi dưỡng, xuất hiện gân mạch co rút, nhìn mờ, móng tay chân không tươi, khô giòn, dễ gãy, chất lưỡi nhợt, mạch Huyền Tế…

Bệnh phần nhiều do mất huyết hoặc nguồn sinh hóa khí huyết bất túc hoặc ốm lâu hao thương Can huyết gây nên.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sắc mặt xanh nhợt hoặc vàng bủng, thể trạng gầy còm, khô mắt, quáng gà hoặc nhìn mờ, hoa mắt, ù tai, tay chân tê dại, hoặc gân mạch co rút, móng tay chân không tươi. Đối với phụ nữ có thể thấy hành kinh lượng ít, sắc nhợt thậm chí bế kinh, miệng môi và chất lưỡi nhợt, mạch Tế hoặc Huyền Tế.

Chứng Can huyết hư thường gặp trong các bệnh Hư lao, Huyễn vậng, Bất mị, Ma mộc, Tước manh, Kinh nguyệt không đều, Thống kinh…

Cần chẩn đoán phân biệt với các chứng Tâm huyết hư, huyết hư sinh phong, chứng Can âm hư và chứng Can uất huyết hư.

II.PHÂN TÍCH

  • Trong bệnh Kinh nguyệt không đều xuất hiện chứng Can huyết hư thì có đặc điểm là hành kinh muộn, lượng kinh ít, chất loãng, thậm chí bế kinh. Đây là do Can huyết bất túc, huyết hải rỗng không nên gây bệnh. Điều trị nên theo phép bổ Can dưỡng huyết điều kinh, dùng bài Tiễu doanh tiễn (Cảnh Nhạc toàn thư).
  • Trong bệnh Thống kinh xuất hiện chứng Can huyết hư thì có đặc điểm là khi đang hành kinh hoặc sau khi hành kinh, bụng dưới đau âm ỉ liên miên, ưa xoa bóp, lưng gối yếu, chóng mặt ù tai, mạch Trầm Huyền mà Tế, bệnh phần nhiều do Can huyết bất túc, tổn hại tới Thận tinh, hai mạch Xung Nhâm đều hư, bào mạch mất sự nuôi dưỡng gây nên bệnh. Điều trị nên bổ Can thận, dùng bài Điều can tán (Phó thanh chủ nữ khoa).

Read the rest of this entry »

Tháng 11
04

CHỨNG TRẠNG BỆNH CAN

 


1.ĐAU SƯỜN

Đau sườn là một chứng trạng thường gặp ở bệnh Can.  Có rất nhiều chứng bệnh đều căn cứ vào đau sườn để  chẩn đoán Can bệnh hoặc có liên quan tới tạng Can.  Nhưng đau sườn không phải chỉ là bệnh của Can, các  loại phong hàn, đàm ẩm đều có thể xuất hiện chứng  này nhưng có điều là bệnh Can thấy chứng này nhiều  hơn.

Vì mạch của Can phân bố ở sườn, tất cả ngoại tà, thất  tình tổn thương Can, khí trệ ứ đọng đều có thể dẫn đến  đau sườn.

Cho nên sách Cổ kim y giám viết: “Chứng đau sườn là  bệnh của Quyết âm Can kinh“.

Bệnh Can xuất hiện đau sườn chủ yếu là vì khí uất (Can  khí uất kết), thường do tâm tình ưu uất hoặc lo toan  chưa giải quyết, hoặc tính tình nóng nảy hay cáu giận  làm cho Can khí không được điều đạt, đường lạc bị  nghẽn trệ. Cho nên trước khi có cơn đau thường có  cảm giác trướng đầy, lúc đau lúc ngừng, dần dần nặng  hơn.

Điều trị nói chung không ngoài phép sơ can lý khí.

Đau kéo dài thì ảnh hưởng tới huyết phận, huyết ứ do  khí trệ, đau như kim châm hoặc có cảm giác nóng rát,  điều trị nên sơ Can lý khí kiêm hoạt huyết, thanh huyết.

Nói chung đau sườn phần nhiều thuộc Thực chứng, Hư  chứng rất ít.

Bệnh Can đau sườn, bất luận thực chứng hay hư  chứng, rất dễ dẫn đến chứng trạng Tỳ Vị như kém ăn,  buồn nôn, trướng bụng, trung tiện.. bởi vì Thực thì Mộc vượng khắc Thổ, Hư thì Mộc không sơ Thổ đều có thể  ảnh hưởng đến công năng tiêu hóa của Tỳ Vị.

Read the rest of this entry »

Tháng 11
03

BIỂU ĐỒ BIẾN PHƯƠNG

  1. LỤC VỊ ĐỊA HOÀNG HOÀN
  2. TỨ VẬT THANG
  3. TỨ QUÂN TỬ THANG
  4. BỔ TRUNG ÍCH KHÍ THANG
  5. NGŨ LINH TÁN
  6. TỨ NGHỊCH TÁN
  7. TIỂU SÀI HỒ THANG
  8. QUẾ CHI THANG
  9. LÝ TRUNG THANG


LỤC VỊ ĐỊA HOÀNG HOÀN

Read the rest of this entry »

Tháng 10
13

CAN DƯƠNG THƯỢNG CANG

Chẩn đoán phân biệt chứng Hậu trong đông Y

Viện nghiên cứu trung Y chủ biên

1.KHÁI NIỆM

Chứng Can dương thượng cang  là chỉ một loạt biểu hiện lâm sàng do âm không phối dương của tạng Can dẫn đến Can dương không tiềm tàng hoặc Can khí thăng phát thái quá, dương khí nổi nổi lên quấy động ở trên gây nên bệnh. Chứng này phần nhiều do phòng thất nhọc mệt, thất tình nội thương và ăn uống không điều hòa là những nguyên nhân cộng đồng tác dụng gây nên.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là choáng váng, đầu trướng đau, hoa mắt, sợ ánh sáng hoặc mắt nhìn không rõ, lờm lợm buồn nôn, ưa yên tĩnh, hoặc có kiêm chứng mặt đỏ, tai ù, miệng lưỡi khô táo, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng hoặc trắng mỏng, mạch Huyền Tế hoặc Huyền Tế Sác.

Chứng Can dương thượng cang thường gặp trong các bệnh Đầu thống, Huyễn vậng, tai ù tai điếc…

Chẩn đoán phân biệt với chứng Can phong nội động, chứng Can hỏa thượng viêm, chứng Can huyết hư, chứng Can âm hư, chứng Can Thận âm hư.

Read the rest of this entry »

Tháng 10
12

CHỨNG CAN HỎA THƯỢNG VIÊM

Chẩn đoán phân biệt chứng hậu trong Đông y

Viện nghiên Trung y chủ biên

1.KHÁI NIỆM

Chứng Can hỏa thượng viêm là chỉ Can khí uất kết hóa hỏa, hỏa khí nghịch lên, có những chứng hậu chủ yếu như đau đầu, mắt đỏ, tai ù, miệng đắng, phần nhiều do mộc uất không điều đạt, công dụng của Can thái quá gây nên bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau đầu chóng mặt, tai ù, thậm chí tai điếc đột ngột, mặt hồng, mắt đỏ, miệng đắng, họng khô, sườn đau, phiền táo dễ giận, mất ngủ hay mê, hoặc thổ huyết, nục huyết, nuốt nước chua, táo bón, tiểu vàng, ven lưỡi và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác.

Chứng Can hỏa thượng viêm thường gặp trong các bệnh Đầu thống, Tai ù tai điếc, Xuất huyết, Bất mị, Nuốt nước chua, Cuồng táo.

Cần chẩn đoán phân biệt với chứng Đởm nhiệt, chứng Can dương thượng cang.

Read the rest of this entry »

Tháng 10
12

CHỨNG CAN KHÍ UẤT KẾT


Chẩn đoán phân biệt chứng hậu trong Đông y

Viện nghiên cứu Trung y chủ biên

1.KHÁI NIỆM

Chứng Can khí uất kết là tên gọi chung cho những chứng trạng tạng Can vì tình chí không thư sướng, uất giận tổn thương làm mất đi sự sơ tiết dẫn đến khí cơ uất trệ, mộc không điều đạt gây nên bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là tinh thần uất ức, ngực sườn đau hoặc đầy tức, hay thở dài, hoặc bầu vú và bụng dưới (thiếu phúc) trướng đau, đại tiện thất thường, kinh nguyệt không đều, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.

Chứng Can khí uất kết thường gặp trong các bệnh có liên quan chặt chẽ với tinh thần và thần trí như chứng Điên, Hiếp thống, Vị quản thống, Phúc thống, Mai hạch khí, Tích tụ, bệnh về kinh nguyệt…

Cần chẩn đoán phân biệt với các chứng Can khí hoành nghịch và chứng Tỳ thấp Can uất.

Read the rest of this entry »

Tháng 9
28

KHIÊM TRAI Y HỌC GIẢNG CẢO

LUẬN TRỊ CHỨNG CẢM MẠO

Tần Bá Vị

Người dịch: Lương y Nguyễn Thiên Quyến

Modified: Đoàn Vũ Xuân Phúc

Nếu như được phép nói, làm một thầy thuốc mà không biện chứng thi trị được tốt chứng cảm mạo, thậm chí chỉ dùng một vài loại thuốc thành phẩm để ứng phó, hoặc là không nắm vững được quy luật chung về điều trị cảm mạo mà chỉ chăm chú vào điều trị những bệnh phức tạp như Ôn bệnh, Thương hàn… đều rất khó tưởng tượng được. Các bạn đã qua học tập, nâng cao trình độ, nhưng chính vì trình độ được nâng cao đó, đối với tật bệnh được xem là nông nhẹ ấy, cần phải đặc biệt chú ý.

Nguyên nhân, cơ chế bệnh và chứng trạng của cảm mạo, sách Trung y nội khoa học giảng nghĩa đã nói rõ ràng, không cần nói lại. Trọng điểm ở đây là nói biện chứng thi trị, đó cũng là làm sao đem được kiến thức sách vở để vận dụng trong lâm sàng cho chính xác.

Nguyên nhân bệnh chủ yếu của cảm mạo là phong tà, muốn khu phong nên dùng thuốc tân tán. Vì khí hậu bốn mùa khác nhau, phong tà xâm nhập cũng thường kiêm cả thời khí khác nhau, nói chung gặp nhiều hai loại phong ôn và phong hàn, trong loại thuốc tân tán lại chia ra tân ôn và tân lương, đó là phép tắc cơ bản để chữa cảm mạo.

Trên cơ sở này, nếu chứng trạng kiêm thử, kiêm táo, kiêm thấp thì điều trị có thanh thử, nhuận táo, hóa thấp. Gặp bệnh nhân vốn có nội nhiệt nặng hoặc vốn có đờm thấp nhiều, cũng có thể kết hợp thanh nhiệt và hóa đàm.

Read the rest of this entry »